|
"Mọi người có quyền tự do
ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng
truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật,
hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác
theo sự lựa chọn của mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
TỰ
DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
IN
VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM
Địa chỉ liên lạc:
binhan2005@gmail.com
truongsonvn81@gmail.com
Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể
tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
|
Người ta hy vọng rằng sau khi Việt Nam vào được WTO, người dân trong nước sẽ dễ thở hơn, tình trạng dân chủ sẽ được cải thiện, nhà cầm quyền sẽ tôn trọng những quyền căn bản và chính đáng của người dân hơn… Vì lúc ấy, Việt Nam đã bước vào “sân chơi quốc tế”, nhà cầm quyền sẽ phải nghiêm chỉnh tuân theo “luật chơi quốc tế”; nếu không, các quốc gia khác sẽ phản kháng kẻ không tôn trọng luật chơi chung. Thật là một viễn cảnh đầy hy vọng.
Nhưng nghĩ tới tình trạng nhân quyền vẫn tiếp tục tệ hại hiện nay của Trung Quốc, một nước đã vào WTO (năm 2001) trước VN ít nhất 5 năm, niềm hy vọng ấy lập tức bị giảm ngay một nửa. Và nghĩ tới kinh nghiệm quá khứ, khi gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1977, VN từng ký kết với thế giới sẽ tôn trọng và thực thi Hiến Chương LHQ (1945), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948), và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998), thế mà tình trạng nhân quyền tại VN hiện nay lại thuộc loại “bết-bát” nhất thế giới, thì nửa hy vọng còn lại chỉ còn một chút xíu. Vì thế, thiết tưởng chẳng nên lạc quan về tình hình dân chủ “hậu WTO” của VN.
Hiện nay, Việt Nam đang còn phải tỏ ra cho thế giới thấy thiện chí cải thiện nhân quyền của mình để được các nước khác chấp nhận cho mình gia nhập WTO, thế mà tình trạng nhân quyền tại đây vẫn còn rất “bết-bát”. Vậy, sau khi đã vào được WTO, Việt Nam không còn phải phấn đấu về mặt nhân quyền nữa, lúc đó ai sẽ bảo đảm rằng Việt Nam sẽ tôn trọng nhân quyền hơn hiện nay?
Quả thật, kinh nghiệm cho thấy khó – hoặc không thể – tin vào thiện chí cải thiện nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản được. Hiện nay Việt Nam vừa muốn vào WTO nhưng lại vừa muốn duy trì chế độ độc đảng lâu chừng nào tốt chừng nấy. Họ muốn vào WTO vì nếu không vào thì Việt Nam sẽ phải chịu rất nhiều thiệt thòi về kinh tế, không thể hòa nhập vào kinh tế thị trường toàn cầu, điều này ảnh hưởng tai hại cho việc cầm quyền của họ. Song song với ước muốn ấy, họ cũng muốn duy trì chế độ độc đảng toàn trị lâu chừng nào tốt chừng nấy để có thể tiếp tục hưởng được những đặc quyền đặc lợi cách bất công mà họ đã và đang hưởng suốt bao năm qua.
Hai điều mong muốn ấy của họ mâu thuẫn, trái ngược nhau, nhưng họ lại muốn được cả hai:
– muốn vào WTO thì họ phải thỏa mãn những đòi hỏi của dân chúng là phải tôn trọng những quyền lợi chính đáng của họ mà đã 60 năm qua họ không hề tôn trọng, trong đó quan trọng nhất là quyền tự quyết của người dân.
– nhưng tôn trọng những quyền đó đồng nghĩa với từ bỏ chế độ độc tài toàn trị và độc đảng hiện nay của họ, là điều họ không muốn.
Họ không muốn chọn điều này bỏ điều kia, mà muốn được cả hai. Để làm được cả hai điều ấy, họ phải tạm thời giả bộ thỏa mãn tất cả những yêu sách mà quốc tế đòi hỏi để vào được WTO đã, nghĩa là họ tạm thời chấp nhận nhượng bộ những đòi hỏi của dân chúng, mà các nhà dân chủ – là những người đại diện – dám lên tiếng thay cho toàn dân vốn sợ hãi không dám lên tiếng. Họ sẵn sàng đánh lừa quốc tế, tức đánh lừa các quốc gia mà họ phải ký kết, đồng thời đánh lừa những người dân nhẹ dạ. Các quốc gia khác thừa biết điều ấy, nhưng vì quyền lợi kinh tế của mình, họ sẽ chấp nhận những điều kiện mà Việt Nam chỉ chủ trương thỏa mãn một cách hình thức. Nhờ đó Việt Nam sẽ vào được WTO, đồng thời nhà cầm quyền cộng sản vẫn tiếp tục nắm được độc quyền cai trị.
Sau khi vào được WTO, chắc chắn họ sẽ tiếp tục thực hiện điều chủ trương còn lại là duy trì chế độ độc tài toàn trị của họ trên đất nước này bao lâu có thể, hoặc ít nhất là có đủ thời gian để tìm cách “hạ cánh an toàn”, nghĩa là chấp nhận từ bỏ quyền lực mà vẫn bảo vệ được mạng sống, tài sản và ít nhiều đặc quyền đặc lợi của họ. Muốn duy trì chế độc độc tài toàn trị, họ sẽ phải tiếp tục đàn áp những tiếng nói đòi hỏi tôn trọng nhân quyền, đòi hỏi quyền tự quyết của người dân… Họ có làm được điều này hay không còn tùy thuộc vào sự can thiệp hay áp lực của quốc tế. Và sự can thiệp của quốc tế lại tùy thuộc vào tiếng nói của các nhà dân chủ trong nước có mạnh mẽ, có được hậu thuẫn hay không, và tùy thuộc vào sự vận động quốc tế của khối người Việt yêu tự do dân chủ ở hải ngoại. Lúc họ đã vào được WTO, rất có thể họ sẽ bất chấp những đòi hỏi của quốc tế, những gì họ đã hứa hẹn với thế giới, vì họ đã đạt được cả hai điều mà họ mong muốn hiện nay rồi. Cách hành xử bất chấp những gì đã ký kết của Trung Quốc sau khi nước này vào được WTO sẽ là tấm gương cho họ noi theo sau này.
Vì thế, người Việt, hải ngoại cũng như trong nước, cần ý thức được tính hình thức hay giả tạo trong việc nhà cầm quyền hiện nay thỏa mãn những điều kiện mà quốc tế đòi hỏi để họ gia nhập WTO. Và cần ý thức chủ trương của họ là duy trì độc quyền cai trị của mình bao lâu có thể. Từ đó chúng ta có thể suy ra rằng họ chỉ tôn trọng các quyền chính đáng và quyền tự quyết của người dân khi nào có áp lực buộc họ phải tôn trọng mà thôi. Vì thế, các nhà dân chủ không nên hy vọng gì nhiều, mà hãy chuẩn bị tinh thần để đối phó với tình thế có khuynh hướng tệ hại hơn hiện nay, đồng thời tiếp tục đấu tranh. Còn người Việt hải ngoại cần phải mạnh mẽ vận động quốc tế để có những biện pháp chế tài hữu hiệu nếu nhà cầm quyền Việt Nam không tuân thủ những gì mà trước khi gia nhập WTO họ đã ký kết với thế giới. Phải làm sao để thế giới đừng tiếp tục bị họ đánh lừa một lần nữa như khi họ gia nhập Liên Hiệp Quốc hoặc như trường hợp Trung Quốc khi gia nhập WTO trước đây. Và khi họ vi phạm những gì đã ký kết, thì người Việt hải ngoại cần thúc đẩy quốc tế thi hành những biện pháp buộc họ phải thực hiện những gì đã cam kết.
Sàigòn 10-7-2006
|