Tự Do Ngôn Luận - Số 9 * 15 tháng Tám, năm 2006

 
 

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình".
      (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982.
     

Trong số này:

TỰ DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
     IN VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM


   
Địa chỉ liên lạc:
   binhan2005@gmail.com
   truongsonvn81@gmail.com
     
   Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
     
   hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
  
   Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
     


     

  Tiếp theo số 08 và hết

II- Tình Hình Chính Trị VN Trong 20 Năm Trước Mặt (2006 - 2025)

a/ Những Viễn Cảnh Của Tình Hình Trước Mặt:

Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC hôm 19-6 về những điều Cộng sản Việt Nam phải cải thiện dựa theo khuyến cáo của Hội Nghị về 20 năm đổi mới, Tiến Sĩ Lê Đăng Doanh đã nhắc lại ba điểm then chốt mà Hội nghị “khuyến cáo” đảng Cộng sản Việt Nam phải giải quyết:

Thứ nhất là tách cơ quan hành chánh ra khỏi vị trí là chủ quản, chủ đầu tư đối với các công ty nhà nước. Theo ông Doanh thì ngày nào còn có sự lẫn lộn là kết hợp quyền lực chính trị với quyền lợi kinh tế, trách nhiệm không rõ ràng, thì nguy cơ tham nhũng vẫn còn.

Thứ hai là phải đẩy nhanh cải cách hành chánh để tiết kiệm thời gian, tiền bạc.

Thứ ba là chú trọng vào vốn quý nhất của nền kinh tế là con người. Phải đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, khoa học công nghệ, cải tổ giáo dục để con người Việt Nam có kỹ năng, trình độ hầu đáp ứng những yêu cầu mới.

Ba đề nghị của Hội nghị tổng kết 20 năm đổi mới nói trên chẳng khác gì những hướng chiến lược mà đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định trong Đại Hội X tổ chức vào trung tuần tháng 4 năm 2006. Đó là tiếp tục cố thủ trong lô cốt Mác-Lênin, với một số cải cách cầm chừng để biến đổi từ độc tài vô sản sang độc tài tư bản đỏ, trong thời gian tới. Trong 20 năm vừa qua, sở dĩ Hà Nội có thể tiếp tục cố thủ trong lô cốt Mác-Lênin là nhờ vào ba yếu tố chính sau đây:

Yếu tố thứ nhất là hạ tầng cơ sở, đặc biệt là các vùng nông thôn nằm hoàn toàn trong vòng tay kiểm soát của đảng Cộng sản Việt Nam . Cho đến năm 2000, trước khi bùng vỡ mạnh mẽ các vụ khiếu kiện về ruộng đất và phong trào chống tham ô nhũng lạm khởi đầu từ Thái Bình, các cơ sở của đảng Cộng sản đã kiểm soát chặt chẽ, hầu như tuyệt đối những sinh hoạt của người dân, do đó những tranh đấu đòi đa nguyên đa đảng ở thượng tầng xã hội của một số trí thức, văn nghệ sĩ ở thủ đô khi biến cố Đông Âu xảy ra, đã không ảnh hưởng gì đến các sinh hoạt vốn đã bị hệ thống hóa ở nông thôn.

Yếu tố thứ hai là đảng CSVN vẫn nắm chặt bộ máy công an và quân đội cho mục tiêu bảo vệ chế độ. Nhờ đó, đảng Cộng sản Việt Nam –tuy có bị giao động từ các biến cố ở Đông Âu– vẫn có thể trấn áp những nhóm hữu khuynh trong nội bộ. Hệ thống đảng ủy được tổ chức chặt chẽ và chỉ huy nhất thống trong guồng máy bạo lực, nhất là sự ban phát bổng lộc cho những cơ quan, đơn vị quân đội và công an lớn hơn gấp nhiều lần so với các bộ phận khác, khiến quân đội và công an phải bám vào đảng và ra sức bảo vệ đảng.

Yếu tố thứ ba là đảng CSVN đã thoát được vòng vây của thế giới, nhất là của Hoa Kỳ, ngay sau khi rút quân ra khỏi Campuchia vào năm cuối năm 1989 và nối lại quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991. Đặc biệt là từ năm 1994, việc Hoa Kỳ chính thức bãi bỏ cấm vận kinh tế và bình thường hóa ngoại giao, đưa đến sự mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều quốc gia, đã giúp cho lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, không chỉ huy động được tài trợ từ bên ngoài mà còn tạo thêm “niềm tin” mới trong nội bộ đảng, vốn đang trong thời kỳ xuống dốc trầm trọng vì sự tan rã của Liên Xô. Sự mở rộng quan hệ đối ngoại và thu hút các nguồn ODA của một số quốc gia giàu có, đã giúp cho Hà Nội ngày một tự tin hơn trong tiến trình hội nhập và nhất là không còn bị ám ảnh những trừng phạt nặng nề từ Hoa Kỳ như những năm đầu thập niên 80.

Từ những phân tích nói trên, chúng ta thấy rằng, sự tồn tại của Cộng sản Việt Nam cho đến ngày hôm nay, đa số là nhờ vào quán tính của đảng, tức là nhờ vào hạ tầng cơ sở đảng và bộ máy quân đội công an còn vững chắc, cùng với sự việc thoát vòng cô lập của thế giới, chứ không phải do tài lãnh đạo của đảng trên mặt trận kinh tế hay chính trị. Hơn thế nữa, từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu sau nhiều năm chiến tranh, quan tâm duy nhất của nhiều người dân trong những năm cuối thế kỷ 20 là bươn chải kiếm sống trong vòng kiểm soát chế độ mà thôi. Đa số chưa nhận ra những quyền đương nhiên của mình mà đảng Cộng sản Việt Nam cố tình phủ nhận để giữ chặt quyền lực độc tôn.

Tuy nhiên từ năm 2001 trở đi, sau hàng loạt các cuộc khiếu kiện của dân chúng ở Thái Bình, Thanh Hóa, Ninh Bình xảy ra trong các năm 2002 đến 2004, những cuộc đình công của hàng chục ngàn công nhân trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xảy ra từ cuối năm 2005 kéo dài đến ngày nay, và nhất là những hình thức đấu tranh ngày một lan rộng bán công khai của các nhà đối kháng trong nước đã cho thấy là đảng Cộng sản Việt không thể tiếp tục cố thủ trong lô cốt Mác Lênin như trong 20 năm vừa qua. Ngoài ra, sự gia nhập WTO và mở rộng các quan hệ song phương với một số quốc gia phương tây, buộc Hà Nội phải chấp nhận một hình thái đa nguyên trong xã hội với sự xuất hiện của những tập hợp quần chúng do nhu cầu làm ăn sinh sống và cạnh tranh trong thương trường. Chính những tập hợp quần chúng này dưới dạng tổ chức phi chính phủ, ái hữu, nghệ thuật, văn hóa, tôn giáo... sẽ tạo vô số những nối kết hàng ngang trong xã hội, từng bước vượt ra khỏi sự kiềm tỏa của bộ máy đảng và nhà nước, góp phần hình thành ra bối cảnh sinh hoạt chính trị đa nguyên.

Trước những biến chuyển tình hình như vậy, vấn đề Việt Nam sẽ rơi vào một trong ba viễn cảnh như sau:

Viễn cảnh thứ nhất là đảng Cộng sản Việt Nam còn khả năng tiếp tục giữ nguyên trình trạng như hiện nay. Nghĩa là Hà Nội tiếp tục khống chế mọi mặt xã hội, tiếp tục đu giây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Những thay đổi đáng kể, nếu có chỉ khi nào Trung Quốc có những biến động lớn.

Viễn cảnh thứ hai là đảng Cộng sản Việt Nam dần dần biến thái thành một đảng độc tài không còn màu sắc cộng sản (thay đổi tên đảng, tên nước và không nhắc đến nhóm từ xã hội chủ nghĩa) và chấp nhận một số cải tổ biểu kiến về mặt chính trị như cho một số người ngoài đảng tham gia ứng cử dân biểu quốc hội hay các ủy ban nhân dân cấp làng xã, nhưng thực tế vẫn nắm chặt sự kiểm soát toàn xã hội.

Viễn cảnh thứ ba là đảng Cộng sản Việt Nam bị những sức ép đấu tranh mạnh mẽ của các phong trào quần chúng và các lực lượng đối kháng, cùng với những xung đột quan điểm đổi mới ngày càng gia tăng giữa thành phần lãnh đạo, khiến các cột trụ chống đỡ cho chế độ theo nhau sụp đổ đưa đến sự thay đổi thể chế như trường hợp các chế độ Cộng sản tại Đông Âu cách nay 17 năm.

Từ ba viễn cảnh có thể xảy ra nói trên, chúng ta thấy là Cộng sản Việt Nam đang muốn cố kéo dài viễn cảnh thứ nhất và nếu có bị những áp lực thay đổi thì họ sẽ chủ động thực hiện viễn cảnh thứ hai, để đảng luôn luôn ở vị thế chủ động. Trong khi chúng ta, các lực lượng dân chủ dân tộc muốn đẩy mạnh viễn cảnh thứ ba xảy ra vì có nhiều thuận lợi hơn cho dân tộc

  b/ Dự Phóng Tình Hình Chính Trị Việt Nam Trong Hai Mươi Năm Tới (2006-2026)

Nếu 20 năm vừa qua, dân tộc Việt Nam phần lớn ngủ yên trên chuyến tàu đổi mới loanh quanh của đảng Cộng sản Việt Nam, thì 20 năm trước mặt cả đảng Cộng sản Việt Nam và đại khối dân tộc Việt Nam đều không thể tiếp tục đứng trong tình trạng loay hoay này nữa.

Nếu đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục cầm quyền thì nước ta không những chỉ bị nạn độc tài mà còn rơi vào hai vấn nạn khác nữa. Đó là vấn nạn lệ thuộc vào nước lớn đỡ đầu của đảng Cộng sản Việt Nam có thể là Mỹ hay Trung Quốc, khiến quyền lợi dân tộc bị hy sinh để phục vụ cho nước đỡ đầu. Kế đến là vấn nạn bất công xã hội và đạo đức tiếp tục suy đồi. Với ngần ấy vấn nạn tròng lên cổ dân ta thì dù có vận động thêm nhiều đầu tư ngoại quốc, hay dân ta có thêm ít nhiều hàng hóa tiêu xài đi nữa, Việt Nam sẽ chỉ là một nước nhược tiểu và lạc hậu so với thế giới, từ văn hóa và dân khí đến khả năng kinh tế tự.

Bài toán đặt ra cho tất cả những người yêu nước Việt Nam là làm sao thay đổi tình hình chính trị hiện tại, làm sao thực hiện được khát vọng của toàn dân là được sống trên một đất nước có tự do dân chủ với đầy đủ nhân phẩm và nhân quyền được tôn trọng. Trong bàn cờ chính trị tại Việt Nam hiện nay có bốn đối tác ảnh hưởng lên nhau:

Một là đảng Cộng sản Việt Nam đang nắm quyền cai trị nhưng mất dần khả năng kiểm soát lên toàn bộ xã hội, không còn có thể tự tung tự tác như 20 năm qua.

Hai là các thế lực ngoại quốc đang làm ăn buôn bán với Hà Nội, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc đang dùng ảnh hưởng riêng rẽ để khuynh loát những phe nhóm trong nội bộ đảng làm theo ý muốn của họ, bao gồm cả nhiều nhóm trong Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là quần chúng Việt Nam ở trong và ngoài nước luôn luôn có những mong muốn đổi thay để đất nước có tự do, dân chủ. Những bất mãn của người dân đang biến thành các hành động cụ thể qua đình công, khiếu kiện, tố cáo tham ô..

Bốn là các lực lượng đấu tranh, các đảng phái cách mạng đang hoạt động nhằm chấm dứt chế độ độc tài Cộng sản Việt Nam . Hầu hết các tổ chức còn đang hoạt động bí mật và chưa có sự phối hợp nhịp nhàng. Tuy nhiên đang có chiều hướng liên kết và xuất hiện công khai hay bán công khai trong thời gian tới.

Trong bốn đối tác nói trên, quần chúng và lực lượng đấu tranh đang là chủ lực đối đầu với đảng Cộng sản Việt Nam, trong khi thế lực ngoại quốc - căn bản là thủ lợi - sẽ ngã về bất cứ phía nào đang ở thế mạnh vì có ảnh hưởng nhiều hơn đến quyền lợi của họ. Vì vậy, bài toán của Việt Nam vẫn là phương cách giải quyết vấn đề bằng một cuộc cách mạng dân chủ. Cuộc cách mạng dân chủ này đến từ ba tiềm lực:

1/Những chống đối của quần chúng trên mặt trận dân sinh, dân quyền qua các dạng đình công, khiếu kiện, tố cáo tham ô nhũng lạm... Chúng ta cần tiếp sức và tác động mạnh mẽ để tạo thành một phong trào đấu tranh quần chúng rộng khắp.

2/Những lực lượng đấu tranh, đảng phái cách mạng sẽ phải tạo một thế liên kết thật sự và công khai điều hướng các bước chống đối của những phong trào quần chúng để đẩy lên thành những cao trào tấn công vào guồng máy tham ô nhũng lạm của chế độ Hà Nội.

3/Cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại sẽ là lực tác động rất lớn để vừa tiếp tay cho các phong trào quần chúng lớn mạnh; vừa vận động dư luận thế giới hỗ trợ và ngăn chận những thủ đoạn đàn áp và khủng bố của Hà Nội đối với các nỗ lực tranh đấu tại quốc nội.

Nếu kết hợp ba tiềm lực nói trên có thể chuyển thành hành động trong sự kết hợp nhịp nhàng, dân tộc Việt Nam sẽ có một vũ khí đáng kể tạo ra nhiều áp lực thay đổi kinh tế, chính trị, xã hội, hành chánh, luật lệ và từ đó lấn dần chủ động thay đổi thể chế cai trị như những dân tộc tại Đông Âu và các nước cựu thành viên Liên Xô đã làm trong những năm qua. Trước tình hình này, chúng ta có thể vạch ra một vài dự phóng qua ba giai đoạn trong vòng 20 năm tới như sau:

  Giai đoạn 1: Giải Quyết Guồng Máy Độc Tài Cộng Sản:

Đây là thời kỳ khai triển tối đa những nỗ lực đấu tranh đã được dân tộc ta tiến hành trong hơn 30 năm qua nhằm chấm dứt ách độc tài cộng sản. Giai đoạn này sẽ phải kết thúc bằng một sự vùng dậy của toàn dân, chấm dứt sự thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam bằng phong trào đấu tranh quần chúng và sự hình thành bối cảnh sinh hoạt chính trị đa nguyên tại Việt Nam. Với những diễn tiến của tình hình hiện nay, giai đoạn này sẽ không còn kéo dài lâu nữa. Trong vòng 2 đến 3 năm, dân tộc ta có khả năng tháo gỡ guồng máy chính trị độc tài độc đảng.

Giai đoạn 2: Xây Dựng Bối Cảnh Sinh Hoạt Dân Chủ và Đặt Nền Tảng Cho Sự Phát Triển.

Đây là thời kỳ vừa giải quyết những hậu quả của chế độc tài để lại, vừa phải tạo dựng một nền tảng dân chủ pháp trị để khai dụng hiệu quả những tiềm năng của đại khối dân tộc cho nhu cầu canh tân và phát triển quốc gia. Giai đoạn này sẽ phải kéo dài từ 3 đến 6 năm. Cụ thể, trong thời kỳ này sẽ có một số nỗ lực phải tiến hành:

a/Tổ chức tổng tuyển cử tự do để bầu ra quốc hội lập hiến. Nhiệm vụ của quốc hội này là định ra một khung sườn pháp chế cho một nền dân chủ vững bền của nước Việt Nam mới.

b/Ổn định xã hội và giải quyết các tệ nạn do chế độ độc tài để lại, kể cả những vụ bất công, oan ức... đồng thời ngăn chận các hành vi phá hoại quốc gia và xã hội của những thế lực độc tài còn sót lại.

c/Đẩy mạnh các cải cách về mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục... nhất là đầu tư vào thế hệ trẻ để khai dụng nguồn lực chính của đất nước và chuẩn bị những thế hệ tương lai có khả năng đưa dân tộc thăng tiến trong các thập niên kế tiếp

Giai đoạn 3: Tập Trung Phát Triển Việt Nam Toàn Diện

Sau khi đất nước có tự do dân chủ và ổn định, chắc chắn là dân tộc Việt Nam sẽ dồn công sức vào công cuộc phát triển quốc gia để nhanh chóng đưa đất nước bắt kịp các quốc gia phát triển, chấm dứt nỗi nhục mấy trăm năm nghèo đói và lạc hậu. Nếu nỗ lực này được bắt đầu sớm thì đến năm 2025, chúng ta sẽ có một số nền tảng phát triển đáng kể, dựa trên trí tuệ và sự cần mẫn của người Việt Nam ở trong và ngoài nước. Đặc biệt là với sự đóng góp của Cộng đồng người Việt tại hải ngoại, nước ta sẽ có cơ hội phát triển nhanh trong thời kỳ này.

  III- Kết Luận:

Dự phóng về tương lai là một điều rất khó, nhất là dự phóng về một viễn cảnh luôn luôn thay đổi như tình hình nước ta và thế giới hiện nay. Tuy nhiên, rút kinh nghiệm đấu tranh trong 30 năm qua và nhất là với những khát khao của mọi người về một đất nước Việt Nam tự do, dân chủ trong thế kỷ 21, chúng ta tin là Việt Nam không thể tiếp tục loay hoay trong thảm kịch độc tài, lạc hậu và nghèo đói như trong thế kỷ 20. Hơn thế nữa, những dấu hiệu lạc quan của sự phát triển của phong trào dân chủ và những nỗ lực đấu tranh của quần chúng đang xảy ra từ các xí nghiệp, các công sở dần dần chuyển ra đường phố trong thời gian gần đây, cho phép chúng ta tin rẳng, vấn nạn độc tài Cộng sản sẽ phải được giải quyết trong thời gian sắp tới, bằng sự vùng dậy của quần chúng Việt Nam. Một điều quan trọng mà chúng ta phải suy nghĩ là sau khi giải quyết ách độc tài cộng sản, làm sao dân tộc chúng ta tạo ngay được sự đoàn kết toàn dân để cùng góp phần xây dựng đất nước một cách tốt đẹp. Nỗ lực đầu tư trí tuệ chuẩn bị cho giai đoạn này cần được bắt đầu ngay từ hôm nay./.