Tự Do Ngôn Luận - Số 7 * 15 tháng Bảy, năm 2006

 
 

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình".
      (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982.
     

Trong số này:

TỰ DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
     IN VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM


   
Địa chỉ liên lạc:
   binhan2005@gmail.com
   truongsonvn81@gmail.com
     
   Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
     
   hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
  
   Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
     


     

     Sau hơn 60 năm, dưới chế độ độc tài chuyên chế của chủ nghĩa CS, xã hội VN hiện nay đã bị phân hoá thành hai thành phần, hai giai cấp rõ rệt. Là một người dân bình thường, tôi xin có một số nhận xét sau đây, mong quí vị góp ý kiến tranh luận các vấn đề tôi nêu ra, để đi đến nhìn nhận đánh giá một cách khách quan chế độ xã hội ở VN hiện nay.
      I- Sự hình thành giai cấp
      Một trong những yếu tố cơ bản của chế độ độc tài CS là việc tuyển chọn, sàng lọc các thành phần xã hội để đưa vào hàng ngũ cai trị, những hạt giống "Ðỏ" nhằm thực thi chế độ một cách triệt để và trung thành. Việc tuyển chọn nhân sự để đưa vào đảng độc tài được diễn ra hết sức quái gở, không cần tài đức, không cần tri thức, chỉ cần có thành phần dân nghèo lạc hậu nhất của xã hội, trung thành, dễ đào tạo, dễ sai khiến, sẽ được kết nạp vào làm nòng cốt. Sau đó sẽ thực thi chế độ độc tài đảng trị cha truyền con nối.
      Với cách thức tuyển lựa có tính nhất quán và kế thừa quyền lực liên tục hơn 60 năm như vậy, đảng cầm quyền độc tài đã dành cho giai cấp của mình những đặc quyền đặc lợi không thua kém gì chế độ phong kiến xưa kia. Với một hệ thống cai trị nhũng nhiễu được phân nhỏ ra để dễ bề cai trị và hưởng nhiều lợi lộc, có lẽ VN là một quốc gia có cơ cấu quản lý hành chính nhỏ bé nhất thế giới (có tỉnh chưa bằng một hạt của nước Mĩ). Ngoài bộ máy quản lý TW, với 64 tỉnh thành được phân ra làm nhiều cấp quản lý từ phường xã, đến huyện lị rồi đến cấp tỉnh, như một nhà nước địa phương với một cơ cấu ban bệ khổng lồ có sự tham gia của hơn 3 triệu đảng viên, viên chức nhà nước (*) hưởng lương ngân sách. Ngoài việc được hưởng lương ngân sách, họ còn lập các quĩ đen (*) chia nhau hưởng lợi từ các nguồn tham nhũng do đặt ra cơ chế, chính sách gấp nhiều lần lương.
      Dần dần xã hội VN đã bị phân hoá giai cấp làm hai giai cấp rất rõ rệt, đó là giai cấp bị bóc lột và giai cấp bóc lột cầm quyền mà đảng CSVN là tổ chức đại diện. Ngoài việc nắm quyền lực điều hành nhà nước, giai cấp này còn được hưởng rất nhiều quyền lợi từ đồng thuế đóng góp tạo lên (được chuyển hoá thành ngân sách). Sau đây là những đặc quyền đặc lợi của giai cấp bóc lột được hưởng.
      II- Các điều kiện để phân hoá giai cấp
      1- Diện tích sử dụng công sở để làm việc là bình quân 12m2/người ; chế độ làm việc một tuần 5 ngày, một ngày làm việc 8 giờ (nhưng trên thực tế chỉ làm bình quân 5g/ngày và 4 ngày/tuần)
      2- Các dịch vụ điện, nước, điện thoại công sở không mất tiền, Các tiêu chuẩn khác như chế độ bồi dưỡng ăn ca, ăn trưa, do vậy đã tạo lên một bộ mặt xã hội tập trung ở các đô thị, thị trấn, thị tứ chuyên phục vụ các bữa ăn trưa và tối (chủ yếu là trưa) để đáp ứng các nhu cầu của giai cấp viên chức nhà nước. Người ta tính thành phố Việt Trì, trung tâm đầu não của tỉnh Phú Thọ với khoảng 80 nhà hàng, quán ăn phục vụ cho các quan chức, cán bộ, có doanh số thu nhập chừng khoảng 500 triệu đồng/bữa ăn trưa. (Nếu tính chi phí 1 tháng cho 64 tỉnh thành con số sẽ là bao nhiêu? chưa kể các thị trấn huyện lị).
      3- Cán bộ từ cấp tương đương phó huyện trở lên được cấp điện thoại di động riêng, xe riêng có giá trị khác nhau cho từng cấp lãnh đạo. Ở VN, các loại xe con lưu hành trên đường có đến 90% là biển số xanh (nhà nước)
      4- Một năm cán bộ viên chức được nghỉ phép 15 ngày, được đi nghỉ mát 10 ngày. Ngoài một số thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn v.v… còn tất cả các thành phố tỉnh lỵ, huyện lỵ, các điểm dịch vụ vui chơi, các điểm du lịch nghỉ mát, các nhà hàng ăn uống v.v... đối tượng phục vụ chủ yếu là viên chức nhà nước. Các quan chức một năm được bố trí đi tham quan, công cán nước ngoài ít nhất một lần.
      5- Một cán bộ viên chức được cấp diện tích đất để làm nhà ở kèm theo được trợ cấp một số kinh phí không chính thức. Các vị trí địa điểm đất được phân chia theo thứ tự vị trí quyền lực của từng cá nhân. Các khu dân cư ở VN hiện nay được chia thành hai khu riêng biệt rõ ràng.
      - Phố cổ là khu dân cư buôn bán lao động thành thị được hình thành từ trước; xen kẽ những khu nhà mới xây là những căn hộ cũ kĩ, xuống cấp dột nát, đường phố chật hẹp bẩn thỉu.
      - Phố quan là khu cán bộ viên chức ở, mới được hình thành với những khu nhà khang trang, kiểu cách, tiện nghi nội thất với những đồ ngoại đắt tiền; đường sá hạ tầng được cung cấp chu đáo, sạch sẽ.
      6- Các dịch vụ khám chữa bệnh không mất tiền, các khu khám chữa bệnh riêng biệt, cách ly với dân thường. Con em cán bộ viên chức được thu xếp học riêng trường mà người ta khéo léo gọi tế nhị là trường chuyên, trường điểm v.v…
      7- Việc áp dụng pháp luật đối với viên chức nhà nước, được xem xét chiếu cố và vận dụng trên cơ sở tính đến công trạng đóng góp vào việc phục vụ trong nhà nước, các mức áp dụng vi phạm hoàn toàn mang tính chuyên chế nhà nước, không tuân theo pháp luật, như cảnh cáo, khiển trách, phê bình v.v… trừ trường hợp đem ra xử lý pháp luật, là do thanh trừng phe cánh, đấu đá nội bộ.
      8- Cuối cùng là chính sách ưu đãi đặc biệt, đã tạo lên giai cấp bóc lột chuyên chế là chính sách cha truyền con nối. Một viên chức được ưu tiên dành ít nhất một xuất cho con em mình vào biên chế nhà nước. Nếu là con em cán bộ có vị trí cao trong bộ máy nhà nước, được đặc biệt chú ý có chế độ đãi ngộ và bồi dưỡng trình độ để cơ cấu vào những vị trí trọng yếu sau này.
      III- Chính sách hoạch định xây dựng giai cấp chuyên chế
      - Với 8 đặc quyền đặc lợi trên đây của giai cấp bóc lột (hưởng thuế) đã tạo lên một giai cấp bóc lột có hệ thống và chính sách hoạch định rõ ràng để củng cố cho các đặc quyền đặc lợi của giai cấp thống trị được vững vàng. Họ còn chủ trương xây dựng hệ thống đào tạo tư tưởng nhằm nhồi nhét tư tưởng CS cho các đảng viên tích cực bằng các trường bồi dưỡng lý luận chính trị từ TW đến các quận huyện.
      - Việc chia nhỏ đơn vị hành chính cũng nhằm ý đồ phát triển lực lượng của giai cấp bóc lột, cân bằng với tỉ lệ dân số (tỉ lệ1/15), đủ sức đối phó và trấn áp nhân dân mỗi khi có biến động chính trị. Ví dụ như biến cố Tây Nguyên mùa xuân 2003, họ đã điều lực lượng công an đủ để trấn áp các phần tử nổi loạn (một CA kèm một dân).
      - Vấn đề tham nhũng không phải do tệ nạn, do cơ chế mà sinh ra như người ta tưởng. Mà nó là một kế hoạch được sắp sẵn có định hướng chiến lược nhằm mục đích gắn liền quyền lợi và quyền lực, đảm bảo cho việc tồn tại chế độ lâu dài. Do vậy tất cả các chính sách, các luật định đều được qui định soạn thảo ra tạo nên vùng đất sống cho tham nhũng phát triển. Về vấn đề này, chúng được cơ cấu tổ chức như một tổ chức Mafia cấp nhà nước.
      Phú Thọ VN (Điện thư số 59)
      * Việc vào biên chế viên chức cán bộ nhà nước, điều kiện bắt buộc là phải vào đảng, chỉ trừ một số rất ít làm công tác khoa học không cần.
      * Quĩ đen là tiền chi cho cơ chế chính sách như: hội họp, tiếp khách, chi phí văn phòng phẩm, chi phí sửa chữa tu sửa công sở theo định kì v.v… bị rút ruột hoặc kê khai khống, để lập quĩ đen rồi cuối năm chia nhau tuỳ theo mức độ vị trí được hưởng.