|
"Mọi người có quyền tự do
ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng
truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật,
hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác
theo sự lựa chọn của mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
TỰ
DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
IN
VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM
Địa chỉ liên lạc:
binhan2005@gmail.com
truongsonvn81@gmail.com
Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể
tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
|
TẠI SAO QUỐC GIA PHẢI
TÔN TRỌNG NHÂN QUYỀN?
Từ khi con người biết sống hợp
quần trong xã hội để thành lập quốc gia, giữa người dân và quốc
gia có những nghĩa vụ hỗ tương phát sinh từ một khế ước mặc nhiên
mệnh danh là khế ước xã hội. Chiếu nguyên tắc quân bình giữa quyền
lợi và nghĩa vụ, người dân có nghĩa vụ phải đóng thuế để nuôi
dưỡng quốc gia, phải đi lính để gìn giữ bờ cõi của quốc gia. Để
đáp lại những hy sinh về tài sản và sinh mạng của người dân, quốc
gia cũng có nghĩa vụ phải bảo đảm cho người dân những quyền căn
bản như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó
là những dân quyền xuất phát từ tư cách công dân.
Nhân quyền bao quát hơn và có trước
dân quyền. Nhân quyền là những quyền bẩm sinh, tự nhiên, thiêng
liêng và bất khả chuyển nhượng do Tạo Hóa ban cho con người. Nhân
quyền xuất phát từ nhân phẩm, từ giá trị nội tại của con người.
Với tư cách công dân, người dân
có quyền tham gia chính quyền. Chỉ công dân mới có quyền bầu cử
và ứng cử vào các chức vụ công cử trong bộ máy chính quyền.
Trái lại, bất cứ ai sống trong
lãnh thổ quốc gia, dầu là công dân hay không công dân, cũng có
quyền tự do thân thể, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do phát
biểu, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do đi lại v.v... Đó là
những nhân quyền được thừa nhận cho tất cả mọi người, không phân
biệt chủng tộc, mầu da, tôn giáo, ngôn ngữ, nam nữ, chính kiến
hay thành phần xã hội.
Năm 1945, tại San Francisco, 50
quốc gia hội viên sáng lập Liên Hiệp Quốc ký Hiến Chương Liên
Hiệp Quốc nhằm bảo vệ hòa bình cho các quốc gia và đề xướng nhân
quyền cho con người. Chiếu Điều 56 Hiến Chương, các quốc gia hội
viên cam kết cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc thực thi nhân
quyền trên toàn cầu. Từ đó nhân quyền không còn là một vấn đề
quốc nội mà đã được quốc tế hóa. Các quốc gia hội viên Liên Hiệp
Quốc không thể chủ trương rằng việc họ thủ tiêu hay đàn áp các
công dân của họ chỉ là vấn đề nội bộ.
Nhân quyền là quyền của người dân
mà quốc gia có nghĩa vụ phải bảo vệ. Vi phạm những quyền này,
quốc gia phải trả lời trước Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc.
Đại Hội Nhân Quyền Vienna năm 1993 ra Tuyên Ngôn nhắc nhở các
quốc gia ký kết các Công Ước Quốc Tế phải tôn trọng chữ ký của
mình: “Các quốc gia vi phạm luật quốc tế nhân quyền phải chịu
trách nhiệm quốc tế về những hành động vi phạm của họ”.
Khi ký kết tham gia vào Công Ước
về những Quyền Dân Sự và Chính Trị, các quốc gia cam kết KHÔNG
ĐƯỢC LÀM một số hành động vi phạm nhân quyền, như không được bắt
bớ và giam cầm trái phép, không được tra tấn hành hạ, không được
cản trở việc hành sử quyền tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do
hộp họp, tự do lập hội, tự do tuyển cử, tự do đi lại v.v... “Cấm
làm” chỉ đòi hỏi những hành vi tự chế, không tùy thuộc vào điều
kiện kinh tế quốc gia. Do đó Công Ước về những Quyền Dân Sự và
Chính Trị có hiệu lực chấp hành tức thời.
Khi ký kết tham gia vào Công Ước
về những Quyền Kinh Tế, Xã Hội và Văn Hóa, các quốc gia kết ước
có nghĩa vụ PHẢI LÀM tuần tự, tùy theo các điều kiện kinh tế tài
chánh được phát triển do những chương trình kế hoạch quốc gia
hay do sự hợp tác quốc tế và sự hỗ trợ của Liên Hiệp Quốc qua
Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển
Á châu v.v...
VIỆC HÀNH SỬ NHÂN QUYỀN CÓ THỂ BỊ GIỚI HẠN KHÔNG ?
Chiếu nguyên tắc quân bình giữa
quyền lợi và nghĩa vụ, bất cứ việc hành sử quyền hạn nào trong
xã hội cũng đòi phải có nghĩa vụ và giới hạn. Muốn mọi người tôn
trọng tự do của mình, thì mình cũng phải tôn trọng tự do của người
khác. Theo tôn chỉ Liên Hiệp Quốc, quyền tự do phát biểu, tự do
ngôn luận không được hành sử để cổ võ chiến tranh, kích thích
bạo động, gieo rắc hận thù và kỳ thị giữa các quốc gia, các chủng
tộc, các giai cấp và các tôn giáo.
Chiếu Điều 29 Tuyên Ngôn Quốc Tế
Nhân Quyền “trong khi hành sử những quyền tự do của mình, ai cũng
phải chịu giới hạn do luật pháp đặt ra, ngõ hầu những quyền tự
do của người khác cũng được tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng
về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội
dân chủ cũng được thỏa mãn”.
Chiếu Điều 2 Công Ước về những
Quyền Dân Sự và Chính Trị, các quốc gia cam kết tôn trọng và bảo
đảm thực thi những quyền con người được thừa nhận trong Công Ước.
Các quốc gia cũng cam kết sẽ ban hành các đạo luật theo các điều
khoản của Công Ước để những quyền này có hiệu lực.
Chiếu Điều 5 Công Ước, các quốc
gia không có quyền giải thích [xuyên tạc] Công Ước để cho phép
họ làm những hành vi nhằm tước đoạt hay tiêu diệt những quyền
tự do đã được Công Ước thừa nhận. Các quốc gia cũng không được
ban hành các đạo luật để giới hạn những quyền tự do này quá mức
ấn định trong Công Ước.
Tại các quốc gia không theo chế
độ dân chủ pháp trị, tòa án không độc lập, và chính quyền thường
có khuynh hướng hạn chế nhân quyền quá mức. Kết quả là những quyền
căn bản của người dân đã bị vi phạm, tước đoạt hay tiêu diệt.
Đối với những quyền tự do tinh
thần và tự do chính trị, chỉ có 5 hạn chế được Công Ước Quốc Tế
chấp nhận vì nhu cầu bảo vệ:
1. An ninh quốc gia
2. Trật tự công cộng
3. Sức khỏe công cộng
4. Đạo lý công cộng (thuần phong
mỹ tục)
5. Tự do và danh dự của người khác.
Đây là những nhu cầu cần thiết
trong sinh hoạt xã hội dân chủ. Ngoài 5 hạn chế kể trên, Công
Ước Quốc Tế không chấp nhận thêm bất cứ hạn chế nào khác. (No
restric-tions other than...)
Nghị Định 56/CP/2006 ngày 6-6-2006
hiển nhiên bất hợp pháp. Vì Công Ước Quốc Tế không cho phép cơ
quan hành pháp tự tiện hạn chế việc hành sử những quyền tự do
dân chủ bằng một nghị định của thủ tướng (decree). Chỉ có một
đạo luật (law) do cơ quan lập pháp biểu quyết và ban hành mới
có quyền quy định những hạn chế này (limitations prescribed by
law). (Điều 18 khoản 3 Công Ước Dân Sự Chính Trị về quyền tự do
tôn giáo; Điều 19 khoản 3 về quyền tự do phát biểu, tự do thông
tin ngôn luận; Điều 21 về quyền tự do hội họp, và điều 22 khoản
2 về quyền tự do lập hội và lập đảng).
Trong chế độ dân chủ ý nguyện của
người dân được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia. Khi
hành sử quyền dân tộc tự quyết, người dân có quyền bầu lên các
đại biểu của mình trong các cơ quan công quyền như quốc hội. Và
chỉ có quốc hội mới có quyền soạn thảo và ban hành những đạo luật
liên quan đến những quyền tự do căn bản của người dân như tự do
tôn giáo, tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do
tuyển cử v.v...
Do đó, những cấm đoán và hạn chế
ghi trong Nghị Định 56-CP-2006 về quyền tự do tư tưởng và tự do
phát biểu, như truyền bá tư tưởng phản động, thông tin mang nội
dung độc hại, tiết lộ bí mật của Đảng, Nhà Nước, hay các bí mật
khác do pháp luật quy định, xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận
thành tựu cách mạng, xúc phạm anh hùng dân tộc, hay xúc phạm uy
tín của các cơ quan tổ chức v.v... đều là những hạn chế bất hợp
pháp vì vượt quá giới hạn ấn định trong Công Ước Quốc Tế. Dầu
rằng những hạn chế này được quy định thành văn trong một đạo luật
do quốc hội biểu quyết và ban hành, thì đạo luật này cũng vi phạm
luật pháp quốc tế.
HUỐNG CHI ĐÂY CHỈ LÀ MỘT NGHỊ ĐỊNH CỦA MỘT ÔNG THỦ TƯỚNG TỰ TIỆN
TƯỚC ĐOẠT QUYỀN TỰ DO THÔNG TIN NGÔN LUẬN CỦA TOÀN THỂ MỘT DÂN
TỘC.
Như vậy nghị định này bất hợp pháp
vì tiếm quyền Quốc Hội, vi phạm Hiến Pháp (Điều 69), và vi phạm
Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị (Điều 5 và
Điều 19).
Cách đây 9 năm, ông thủ tướng Võ
Văn Kiệt cũng ký Nghị Định 31/ CP/1997 ấn định quy chế quản chế
hành chánh để tước đoạt những quyền tự do căn bản của người dân.
Sự quản chế hành chánh vi phạm
quyền của ngưới dân được suy đoán là vô tội, quyền không bị bắt
giam độc đoán, quyền được tòa án xét xử công bằng, quyền được
luật pháp bảo vệ, quyền tự do cư trú và đi lại, quyền riêng tư,
quyền làm việc, quyền tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do lập
hội và lập đảng, tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền.
Về việc thực thi nhân quyền, người
Cộng Sản nói một đằng làm một nẻo. Miệng nói thì tự do dân chủ
mà làm thì đàn áp khủng bố. Sách Trắng về Nhân Quyền 2005 khẳng
định Nhà Nước chủ trương đề xướng, bảo vệ và phát huy nhân quyền,
đặc biệt là quyền tự do thông tin ngôn luận.
Điều 69 Hiến Pháp công nhận người
dân có quyền tự do phát biểu (tự do thông tin ngôn luận, tự do
báo chí), tự do hội họp (mít tinh), quyền biểu tình và quyền tự
do lập hội. Trong những quyền này, quan trọng nhất là tự do phát
biểu. Vì nếu không có tự do phát biểu, trao đổi tin tức ý kiến,
dầu có hội họp hay lập hội thì cũng như không.
Mặc dầu vậy, trên thực tế Đảng
Cộng Sản đã vận dụng nhiều kỹ thuật và thủ đoạn để hạn chế và
tước đoạt tất cả 26 nhân quyền và những quyền tự do căn bản của
người dân, đặc biệt là quyền tự do phát biểu. Họ đã vận dụng cả
3 cơ quan, lập pháp, tư pháp và hành pháp để định tội, truy tố
và bắt giam những người đối kháng có dũng cảm đứng lên đòi tự
do, công lý, dân chủ và nhân quyền:
1. Đảng đã vận dụng quốc hội (đảng
cử dân bầu) để quy định thành văn một số tội hình sự giả tạo,
không tìm thấy trong các bộ luật hình sự của các quốc gia văn
minh trên thế giới, như các tội phá hoại chính sách đoàn kết quốc
gia, tuyên truyền chống chế độ, tuyên truyền chống nhà nước, tội
trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền (nhân dân), tội lợi
dụng quyền tự do dân chủ v.v...
Đồng thời quốc hội còn quy định
thành văn những yếu tố cấu thành tội trạng quá bao quát và mơ
hồ để mở đường cho tòa án tuyên phạt bị can theo chỉ thị của Đảng.
Trong chiều hướng đó, sẽ phạm tội
phản bội tổ quốc (mà hình phạt có thể đến tử hình), những ai cấu
kết với nước ngoài nhằm gây nguy hại, không phải cho quốc gia,
mà cho chế độ xã hội chủ nghĩa.
Tội phản nghịch chỉ đòi hỏi yếu
tố thành lập hay tham gia một tổ chức nhằm lật đổ chính quyền.
Trong các nước dân chủ thì tổ chức này chính là các đảng đối lập
công khai và hợp pháp: Dân Chủ chống Cộng Hòa, Lao Động chống
Bảo Thủ v.v...
Chỉ cần cung cấp cho nước ngoài
những bí mật nhà nước (không nhất thiết là bí mật nguyên tử hay
bí mật quân sự) để nước ngoài sử dụng chống lại quốc gia (không
nhất thiết sẽ gây nguy hại cho quốc gia) cũng cấu thành tội gián
điệp mà hình phạt có thể đến tử hình.
2. Đảng đã vận dụng tòa án (công
cụ) để giải thích xuyên tạc luật pháp căn cứ vào những yếu tố
cấu thành tội trạng quá bao quát và mơ hồ để kết án oan uổng những
người đối kháng ôn hòa bất bạo động trong việc hành sử những quyền
tự do căn bản, đặc biệt là quyền tự do phát biểu:
Năm 1991, Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế
đã hành sử quyền tự do phát biểu bằng cách công bố Lời Kêu Gọi
đòi thực thi quyền dân tộc tự quyết cho người dân thiết lập chế
độ dân chủ pháp trị thay thế chế độ độc tài đảng trị. Mặc dầu
vậy ông đã bị kết án 20 năm tù về tội phản nghịch hay “hoạt động
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.
Năm 1996, sau khi công khai phủ
định chủ nghĩa cộng sản (chia tay ý thức hệ), thay vì tội tuyên
truyền chống chế độ, Hà Sĩ Phu đã bị truy tố và kết án 1 năm tù
về tội bịa đặt “tiết lộ bí mật nhà nước”, bí mật này chỉ là bản
phúc trình của ông Võ Văn Kiệt gửi Trung Ương Đảng Bộ Cộng Sản.
Một tháng sau vụ Đại Khủng Bố ngày
11-9-2001, Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã bị kết án 15 năm tù về tội
giả tạo “phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia” và tội “vi phạm
quyết định quản chế hành chánh”, chỉ vì đã gửi bản điều trần đến
Quốc Hội Hoa Kỳ tố cáo những vi phạm tự do tôn giáo của nhà cầm
quyền Hà Nội.
Năm 2002, sau vụï phát giác Đảng
Cộng Sản nhượng đất biên giới và bán nước Biển Đông cho Trung
Quốc, Lê Chí Quang đã công bố lời Cảnh Giác Bắc Triều, và đã bị
kết án 4 năm tù về tội “tuyên truyền chống nhà nước”.
Cũng trong thời gian này Nguyễn
Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn và Nguyễn Vũ Bình đã bị truy tố và kết
án 12 năm tù, 5 năm tù và 7 năm tù về tội lố bịch “gián điệp”.
Nguyễn Khắc Toàn chỉ phổ biến ra
nước ngoài tin tức về nhữõng cuộc mít tinh biểu tình của nông
dân 2 miền Nam Bắc kéo về Hà Nội đòi lại các ruộng đất tài sản
đã bị chính quyền địa phương tước đoạt trái phép.
Nguyễn Vũ Bình chỉ gửi bản điều
trần đến Quốc Hội Hoa Kỳ để tường trình về những vi phạm nhân
quyền tại Việt Nam. Ngoài ra anh còn đòi thành lập Đảng Tự Do
Dân Chủ, bãi bỏ chế độ độc đảng và độc quyền lãnh đạo của Đảng
Cộng Sản,
Bác Sĩ Phạm Hồng Sơn cũng bị kết
tội gián điệp chỉ vì đã xuất bản cuốn “Thế Nào Là Dân Chủ?” dịch
từ một tài liệu thông tin của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ!
Năm 2004, hai nhà trí thức lãnh
đạo nhóm Dân Chủ là Phạm Quế Dương và Trần Khuê đã bị kết án 19
tháng tù về tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ”, chỉ vì đã lên
tiếng tố cáo Đảng Cộng Sản nhượng đất biên giới và bán nước Biển
Đông cho Trung Quốc. Ngoài ra hai ông còn đòi thành lập Hội Nhân
Dân Chống Tham Nhũng.
3. Đảng Cộng Sản còn vận dụng hành
pháp (cơ quan thừa hành) để tiếm quyền quốc hội bằng cách công
bố những nghị định của thủ tướng chính phủ để tước đoạt nhân quyền
và những quyền tự do căn bản của người dân.
a. Như đã trình bầy, Nghị Định
31/CP/1997 của Võ Văn Kiệt cho phép cơ quan hành chánh (cấp tỉnh)
bắt giam phòng ngừa và quản thúc tại gia tới 2 năm những phần
tử đối kháng không phạm tội hình sự nào. Nghị Định này hiển nhiên
vi hiến vì đi trái Điều 72 Hiến Pháp, theo đó mọi người được suy
đoán là vô tội và không phải chịu hình phạt khi chưa có bản án
kết tội của Tòa Án đã có hiệu lực chấp hành.
b. Nghị Định 38/CP/2005 của Phan
Văn Khải quy định những biện pháp tước đoạt quyền tự do hội họp,
tổ chức mít tinh biểu tình quy định nơi Điều 69 Hiến Pháp, viện
cớ bảo vệ trật tự công cộng, Nghị Định buộc người dân phải đăng
ký tập trung từ 5 người trở lên ở nơi công cộng như vỉa hè, lòng
đường, quảng trường, các cơ sở kinh tế văn hóa, các trung tâm
sinh hoạt cộng đồng, trụ sở các cơ quan nhà nước và các tổ chức
chính trị xã hội v..v..
c. Nghị Định 56/CP/2006 cũng của
Phan Văn Khải chỉ thừa nhận “tự do ngôn luận theo định hướng xã
hội chủ nghĩa”, và đã đề ra những vi phạm quy tắc quản lý nhà
nước trong lãnh vực văn hóa thông tin với những hình phạt hành
chánh đến 30 triệu đồng (khoảng 2 ngàn mỹ kim).
Viện dẫn Điều 4 Hiến Pháp, Đảng
Cộng Sản giành độc quyền lãnh đạo Nhà Nước và xã hội. Điều này
đi ngược lại tinh thần và bản văn của Điều 2 và Điều 6 Hiến Pháp
theo đó “quyền lực Nhà Nước thuộc về nhân dân, của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà Nước thông
qua Quốc Hội là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của
nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.
Muốn sử dụng quyền lực nhà nước,
người dân có quyền tham gia chính quyền, trực tiếp bằng cách ứng
cử vào các chức vụ công cử trong guồng máy quốc gia, hay gián
tiếp bằng cách bầu ra các đại biểu của mình trong Quốc Hội. Do
đó, Quốc Hội phải thừa hành và thực hiện ý chí và nguyện vọng
của người dân, và không được vi phạm và tước đoạt nhân quyền và
những quyền tự do căn bản của người dân.
Kinh nghiệm cổ kim Đông Tây nói
về sự cần thiết của kết hợp hay đoàn kết do việc hành sử quyền
tự do hội họp, tự do lập hội, tự do phát biểu:
Hợp quần gây sức mạnh (L’union
fait la force).
Một cây làm chẳng nên non, ba cây
chụm lại nên hòn núi cao.
Có thảo luận mới tìm ra ánh sáng
(De la discussion jaillit la lumière).
Có quyền hội họp, thảo luận, trao
đổi tin tức ý kiến mới nhìn thấy các khía cạnh của những vấn đề
quốc gia xã hội (thường khi phức tạp và nan giải). Đặc biệt từ
thời chiến tranh ý thức hệ, võ khí chiến lược là thông tin tuyên
truyền (thường khi xuyên tạc và phóng đại).
Từ 3 thế kỷ nay nhân lọai văn minh
đã ý thức tầm quan trọng đặc biệt của quyền tự do tư tưởng và
tự do phát biểu.
Năm 1789, các nhà Cách Mạng Pháp
ra Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền thừa nhận “quyền tự do phát
biểu là một quyền cao quý nhất của con người”. Đây cũng là một
quyền quan trọng nhất để xây dựng dân chủ.
Chúng ta chỉ đơn cử một thí dụ
điển hình: Sau cuộc Cách Mạng Âu Châu 1848, Các Mác công bố tại
Luân Đôn bản Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản, kêu gọi vô sản toàn thế
giới đứng lên đấu tranh võ trang để lật đổ chế độ tư bản (mà Anh
Quốc là nước dẫn đầu bằng cuộc Cách Mạng Kỹ Nghệ). Mặc dầu vậy
Tòa Án Luân Đôn đã không truy tố Các Mác về một tội hình sự nào.
Vì tòa án chỉ trừng phạt về tội phản nghịch (hành động nhằm lật
đổ chính quyền) nếu các bị can đã tập hợp võ trang và đã khởi
sự hành động nhằm lật đổ chính quyền. Nếu chỉ tuyên truyền kêu
gọi trên lý thuyết (abstract doctrine) thì không phạm tội phản
nghịch. Tuyên truyền không phải là một tội hình sự. Tuyên truyền
chỉ là việc hành sử quyền tự do tư tưởng và quyền tự do phát biểu
được nhân loại văn minh trân trọng.
Trong giả thuyết Anh Quốc áp dụng
luật pháp và chính sách của nhà cầm quyền Hà Nội ngày nay thì
Các Mác sẽ có thể bị truy tố và kết án về những tội đại hình sau
đây:
l. Phản nghịch hay “hành động nhằm
lật đổ chính quyền” mà hình phạt có thể đến tử hình. Nguyễn Đan
Quế, Đoàn Viết Hoạt và Nguyễn Đình Huy đã bị kết án 20 năm tù
và 15 năm tù về tội này.
2. “Tuyên truyền chống nhà nước”
hay “tuyên truyền chống chế độ”. Đoàn Thanh Liêm, Trần Vọng Quốc
và Lê Chí Quang đã bị kết án 12 năm tù, 8 năm tù và 4 năm tù về
tội này.
3. “Phá hoại chính sách đoàn kết
quốc gia”. Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Quảng Độ và
cụ Hoàng Minh Chính đã bị kết án 13 năm tù, 5 năm tù và 1 năm
tù về tội này.
4. “Lợi dụng quyền tự do dân chủ”û.
Phạm Quế Dương và Trần Khuê đã bị kết án 19 tháng tù về tội này.
5. Ngoài ra Các Mác còn có thể
bị nhà cầm quyền Bá Linh đòi dẫn độ về Đức để trả lời về “tội
trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền” với hình phạt từ 3
năm tù đến tù chung thân.
6. Nếu Phạm Hồng Sơn đã bị kết
án 5 năm tù về tội “gián điệp”chỉ vì đã xuất bản cuốn “Thế Nào
Là Dân Chủ?”, thì Các Mác cũng có thể bị tuyên phạt về tội này
sau khi công bố bản “Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản” và xuất bản cuốn
“Tư Bản Luận”.
Trong chế độ Dân Chủ, tòa án và
luật pháp được thiết lật và ban hành để ban phát công lý cho người
dân, và bảo vệ con người về sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản.
Trong chế độ Cộng Sản, tòa án và
luật pháp được Đảng và Nhà Nước dùng làm công cụ để đàn áp đối
lập và củng cố chế độc tài toàn trị.
Kinh nghiệm 60 năm cho biết Luật
Pháp Cộng Sản là Luật Rừng Xanh (Jungle Law), và Tòa Án Cộng Sản
là Tòa Án của Loài Đại Thử (Kangaroo Court).
(Tháng 7, 2006)
|