|
"Mọi người có quyền tự do
ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng
truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật,
hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác
theo sự lựa chọn của mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
TỰ
DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
IN
VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM
Địa chỉ liên lạc:
binhan2005@gmail.com
truongsonvn81@gmail.com
Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể
tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
|
Thật
là lạ ! Một chế độ cứ tuyên bố mình dân chủ và tự do gấp triệu
lần những nước khác, thế mà một người dân chỉ chụp hình đoàn dân
oan đi diễu hành ngoài đường bằng điện thoại di động khi không
hề có bảng cấm chụp hình, lại phải làm việc với công an suốt nhiều
ngày chỉ vì chuyện ấy! Chẳng hạn trường hợp anh Lê Trí Tuệ chụp
hình đoàn dân oan Bến Tre đi diễu hành ở Sàigòn ngày 19-6-2006.
Phải chăng đó là thứ tự do dân chủ kiểu cộng sản? Thứ tự do dân
chủ kiểu này trong thực tế có khác gì tình trạng hoàn toàn thiếu
tự do dân chủ ở trong những nước khác không?
Nhà cầm quyền Việt Nam cứ hành
động theo kiểu ấy hơn nửa thế kỷ nay rồi! Nhưng hễ có ai nói họ
khủng bố dân, họ hành dân, không cho dân chúng tự do… thì thường
là có chuyện với họ. Họ sẽ kết tội người đó xuyên tạc, nói xấu
chế độ, chống lại chế độ, thông tin có nội dung độc hại, xúc phạm
dân tộc, âm mưu phá hoại/chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, lợi
dụng quyền tự do dân chủ để chống lại nhà nước CHXHCNVN, v.v…
Cứ nhân danh “an ninh quốc gia” là họ cảm thấy có lý do “chính
đáng” để cấm đoán, bắt bớ, quản chế, bỏ tù những ai dám lên tiếng
đấu tranh cho sự thật, cho công lý, những ai họ cảm thấy nguy
hiểm cho ngai vàng của đảng hay chiếc ghế của họ. Nhưng kinh nghiệm
của người dân cho thấy rất nhiều trường hợp những tin tức bị nhà
nước tuyên bố là xuyên tạc, là vu khống, là sai sự thật... lại
chính là sự thật. Dường như quan niệm về “sự thật” của chế độ
cộng sản khác hẳn hoặc trái ngược hẳn với quan niệm về “sự thật”
của cả thế giới!
Mới đây, Thủ tướng Phan Văn Khải
đã ký nghị định 56/2006/NĐ-CP ngày 06-6-2006 – như một món quà
tặng nhân dân trước khi từ chức – để hạn chế hơn nữa quyền tự
do thông tin và báo chí vốn đã bị hạn chế quá mức rồi. Đọc nghị
định này, nhiều người suy đoán rằng mục đích của nó, một mặt là
để bưng bít và bao che tội ác cho giới cầm quyền, khi mà báo chí
hiện nay đang gia tăng khuynh hướng tố cáo những sai trái trong
xã hội, đặc biệt của giới có chức có quyền. Nếu không chặn đứng
thì cứ đà này, các sai trái của những quan chức cao cấp nhất nước
cũng có nguy cơ bị vạch mặt chỉ tên. Mặt khác, trong xã hội đang
xuất hiện những tờ báo giấy vượt ra ngoài tầm kiểm soát của đảng,
cần phải ngăn chặn kẻo còn những tờ báo khác nữa được thể sẽ ra
thêm. Nhưng qua nghị định này, thế giới lại có thêm một bằng chứng
hùng hồn cho thấy nhà cầm quyền VN một lần nữa dùng pháp luật
vi hiến để hạn chế hoặc phủ nhận quyền tự do của người dân.
Và cũng mới đây, họ lại ra một
quyết định cấm tụ tập từ 5 người trở lên tại vỉa hè, lòng đường,
quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng,
tại khu vực trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Muốn tụ tập phải đăng ký hoặc xin phép trước (để nhà nước có quyền
từ chối không cho phép). Thế là từ nay tự do hội họp mà hiến pháp
Việt Nam chủ trương nhưng “theo quy định của pháp luật” chỉ còn
có nghĩa là tự do hội họp từ 4 người trở xuống. Đang khi các nước
tự do dân chủ thật sự có thể hội họp hàng trăm, hàng ngàn người
mà không phải xin phép mà cũng không bị coi là vi phạm pháp luật.
Bây giờ tại Việt Nam, theo luật mới, những ai tụ họp từ 5 người
trở lên mà không xin phép là vi phạm pháp luật! Người dân dễ nhận
ra đây là một biện pháp dùng pháp luật vi hiến và cơ chế “xin-cho”
để ngăn cản hoặc hạn chế những cuộc biểu tình, tụ tập chính đáng
của dân oan khiếu kiện trước các cơ sở nhà nước. Vì lúc này, dân
bị oan ức quá đông và ngày càng đông hơn, đang có nguy cơ bùng
phát lên thành những cuộc tập trung để diễu hành, biểu tình...
rất nguy hiểm cho chế độ độc tài.
***
Ôi, luật pháp VN! Đúng ra mi phải
bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người dân. Nhưng than ôi,
trong tay những kẻ bạo tàn, mi lại trở thành công cụ đàn áp người
dân hữu hiệu nhất của họ. Thay vì kết án những hành vi tước đoạt
khỏi người dân những quyền lợi chính đáng thì mi lại đứng về phía
những kẻ áp bức bất công bằng cách hợp pháp hóa những hành vi
ấy của họ! Mi vô hiệu hóa biết bao điều khả dĩ chấp nhận được
trong hiến pháp!
Ôi hiến pháp Việt Nam! Ước chi
những điều khoản của mi đừng thêm cái câu thòng lọng “theo quy
định của pháp luật” để giới cầm quyền có thể dựa vào đấy mà tạo
thêm những pháp lệnh, nghị định, quyết nghị... biến những điều
khoản của mi thành vô nghĩa, vô hiệu lực và vô giá trị! Để rồi
mi cũng chỉ thành một thứ đồ trang trí, tô trát cho bộ mặt nhem
nhuốc của những kẻ đàn áp bất công! Cái tệ hại nhất và thiếu sáng
suốt nhất là mi lại hợp hiến hóa sự cai trị vĩnh viễn và duy nhất
của một đảng phái trên đất nước này, bất chấp đảng ấy bị thoái
hóa tệ hại đến mức độ nào! Thay vì làm cho dân được hạnh phúc,
mi chỉ làm cho họ đau khổ, lầm than thôi!
***
Nhà nước VN đang làm một cái trò
rất buồn cười và luẩn quẩn. Một mặt thì nghiêm cấm và bắt bớ những
người tranh đấu, dám nói lên những sự thật lợi ích cho nhân dân
nhưng bất lợi cho đảng và nhà nước. Mặt khác thì cứ tiếp tục gây
ra không biết bao nhiêu bất công, đàn áp. Những bất công đàn áp
này là nguyên nhân buộc người dân phải tranh đấu để sống còn,
để khỏi phải sống như con vật, vì ở đâu có bất công thì ở đấy
tất yếu có tranh đấu. Nhà nước mà cứ tiếp tục hành động kiểu này
thì vừa bất lợi cho chính mình vừa làm khổ cho dân!
Trường hợp đoàn dân oan Bến Tre
đi diễu hành ở Sàigòn mấy tuần nay (6-06) là một điển hình: giới
cầm quyền gây đủ thứ oan ức cho dân nhưng lại không muốn cho dân
kêu than, hoặc cố gắng tối đa bưng bít tiếng kêu than của họ.
Nhưng mặt khác vẫn cứ tiếp tục áp bức, chiếm dụng đất đai của
họ cách bất công. Họ ức quá không chịu nổi, đành phải liều mình
lê thân đến SG một phen, nơi có nhiều tai mắt quốc tế, để nói
lên nỗi oan khiên tức tối của mình cho mọi người biết, may ra
có ai đó can thiệp chăng! Nhà nước không cản được họ diễu hành
thì đành phải cấm quay phim, chụp hình để giảm thiểu tối đa việc
lọt ra ngoài những tin tức, hình ảnh, bằng chứng về những tội
ác, bất công của mình. Họ hành động y hệt một anh chàng cứ đạp
mãi gót giày lên chân người khác làm người ta liên tục đau điếng,
nhưng lại cấm người ta kêu đau để không ai biết mình đang đạp
lên chân người ta, cũng không cho người ta được phép nói mình
tàn bạo.
Thật ra, muốn người ta khỏi kêu
than thì chỉ rất dễ, cần rút chân mình ra, đừng đạp lên chân họ
nữa, và chân thành xin lỗi họ là xong. Đằng này lại cứ tiếp tục
đạp lên chân họ rồi tìm cách bịt miệng họ, cấm họ không được kêu
la! Phải chăng nhà nước muốn duy trì “độc quyền vĩnh viễn” dẫm
đạp lên chân mọi người, lên thân phận con người, lên cả một dân
tộc?
Chuyện công an bắt người dân phải
“làm việc” với mình chỉ vì họ lên tiếng nói sự thật, nói lên suy
nghĩ của mình, tranh đấu bảo vệ quyền lợi của mình hay của dân
tộc, là một bằng chứng vi phạm nhân quyền của những kẻ nắm quyền...
cũng là một chuyện lẩn quẩn và phi lý của họ. Họ chỉ làm cho người
dân thêm bức xúc và thúc đẩy người dân mạnh dạn đấu tranh đông
hơn và nhiều hơn nữa mà thôi.
Cũng nên bàn đến ở đây tâm lý của
người dân khi bị công an mời làm việc. Ký ức của người dân về
những chuyện xảy ra nhiều năm trước đây như công an đến nhà bịt
mắt họ đem đi không ngày trở về chỉ vì bị tình nghi là chống đối
chế độ, rồi tra tấn, ép cung, xử án lén lút họ, v.v… vẫn còn đậm
nét trong đầu óc người dân. Vì thế, ngay cả các nhà dân chủ, là
những người đã thắng vượt được phần nào bản năng sợ hãi, nhưng
cứ mỗi lần bị công an mời làm việc, thì đều phát sinh nỗi sợ là
lần này có thể sẽ đi luôn, sẽ phải vào tù… Nhiều nhà tranh đấu
lúc nào cũng chuẩn bị áo quần, hành trang cho những ngày làm việc
không trở về nhà. Khi viết bài này đưa lên mạng lên báo, tác giả
cũng phải chuẩn bị như thế. Rồi còn sợ bao nhiêu chuyện bất lợi
sẽ xảy ra khi mình vào tù: nào là kinh tế gia đình trở nên khó
khăn (vừa bị mất một khoản tiền do mình làm ra mỗi tháng, vừa
tốn tiền gia đình đi thăm nuôi), việc giáo dục con cái bị trở
ngại, con cái cũng sẽ bị khủng hoảng vì sự vắng mặt của mình,
vân vân và vân vân… Nỗi sợ đó nơi những người thân của họ còn
lớn hơn rất nhiều. Nên mỗi lần bị công an mời làm việc là một
lần bị khủng bố tinh thần, mặc dù nhiều khi vẫn đoán được rằng
chẳng đến nỗi nào. Nhưng dù sao bị mời làm việc như thế thì cũng
bị thiệt hại là mất một hay nhiều ngày làm việc để sinh sống mà
không được đền bù lại.
Tuy nhiên, song song với những
người lùi bước trước những đe doạ, thử thách, nguy hiểm ấy, vẫn
có những người nhờ bị thử thách như thế mà dấn thân hơn. Với họ,
những thử thách ấy chỉ biến họ từ người bức xúc lương tâm thành
người lên tiếng, từ người lên tiếng thành người đấu tranh, và
từ người đã đấu tranh trở thành nhà tranh đấu thực sự, giỏi hơn,
lão luyện hơn, nổi tiếng hơn, kiên cường hơn. Thành ra việc phiền
nhiễu, bắt bớ, đàn áp... có thể làm cho cuộc đấu tranh của toàn
dân trở nên mạnh mẽ hơn, hữu hiệu hơn, vì nguyên nhân của mọi
đấu tranh là chính là những phiền nhiễu, bắt bớ, đàn áp... ấy.
Duy trì nguyên nhân tức duy trì hậu quả, tăng cường nguyên nhân
tức tăng cường hậu quả. Điều này trẻ con cấp một cũng hiểu được;
không biết những người nắm quyền đang bị các đặc quyền đặc lợi
làm tê liệt lương tri có hiểu nổi không?!
Chẳng hạn một người đang có công
ăn việc làm hẳn hoi, nhưng chỉ vì bức xúc trước những cảnh bất
công xảy ra trước mắt nên đã lên tiếng theo sự thúc đẩy của lương
tâm. Chỉ có thế mà công an đã mời họ “làm việc”, sau đó bao vây
kinh tế họ bằng cách áp lực công ty hay xí nghiệp của họ buộc
họ nghỉ việc. Nhà cầm quyền cứ nghĩ rằng làm như thế là bịt miệng
họ được. Nhưng không ngờ lại làm cho họ bức xúc hơn, nung nấu
ý chí tranh đấu của họ hơn, đồng thời tạo cho họ có thì giờ và
điều kiện để tranh đấu tích cực hơn. Thật thế, nếu cứ phải làm
việc ở công ty hay xí nghiệp cả ngày, về nhà lại phải lo chuyện
gia đình con cái, thì họ còn đầu óc và thì giờ đâu mà tranh đấu?
Nếu có thì cũng chỉ là tranh đấu kiểu tài tử thôi. Nhưng khi buộc
họ nghỉ việc, công an đã biến họ thành những nhà tranh đấu chuyên
nghiệp và toàn thời gian hơn. Vì không phải làm việc ở công ty
xí nghiệp, nên họ tha hồ rảnh rang đầu óc và thì giờ để thỏa mãn
nỗi bức xúc lương tâm và ý nguyện dấn thân của mình. Khi bị mất
việc và bị công an đàn áp như vậy thì các bạn bè của họ sẽ âm
thầm hiệp lực giúp họ về kinh tế để họ có thể sinh sống, nuôi
gia đình và có phương tiện để tiếp tục đấu tranh cho tự do dân
chủ.
Đối với nhiều người, nhất là những
người có lương tâm, thì càng phải làm việc với công an nhiều,
càng phải làm quen với đe dọa, với nguy hiểm, với thách thức thì
họ càng bớt sợ và nhờ đó càng dấn thân nhiều hơn. Và họ cũng càng
nhậy bén, khôn ngoan hơn khi phải tiếp xúc với kẻ áp bức họ. Trong
cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ, câu “nghề dạy nghề” cũng rất
đúng. Nhiều nhà tranh đấu cảm thấy chính công an đã biến họ từ
những người nhát đảm thành những nhà tranh đấu kiên cường. Chẳng
có gì giúp những người tranh đấu do lương tâm thúc đẩy thành kiên
cường hơn bằng những ngày bị công an mời làm việc với những lời
đe dọa phi lý và phi nhân của công an. Chẳng có gì khiến lập trường
tranh đấu của họ kiên định hơn bằng những lần phải đối chất với
cường quyền, vì càng đối chất với cường quyền, họ càng khám phá
ra sự phi lý, tàn bạo, dối trá và ngụy biện của cường quyền.
Hiện nay, mấu chốt để thành công
trong cuộc tranh đấu dành lại quyền tự do và quyền tự quyết của
nhân dân là thắng vượt được nỗi sợ hãi đang ngự trị trong tâm
hồn cả người cai trị lẫn người bị trị. Người đang cai trị thì
cứ sợ những người bị trị cách bất công nổi loạn, làm mất quyền
cai trị cùng những đặc quyền đặc lợi kèm theo quyền ấy. Vì thế,
họ tìm cách gia tăng đàn áp, khống chế người dân cách bất công
để họ không nổi loạn được. Họ cảm thấy ai có hại hay nguy hiểm
cho họ là họ bịt miệng, chế tài, giam giữ hoặc thủ tiêu, tùy mức
độ nguy hiểm của người ấy. Còn người dân thì cứ sợ bị kẻ cai trị
mình phiền nhiễu, bao vây kinh tế, ngược đãi, bỏ tù, thủ tiêu,
nếu mình làm gì đi ngược lại quyền lợi của họ. Nên người dân bị
trị đành chấp nhận những đòi buộc, những áp bức bất công và phi
lý của những kẻ cai trị, cho đến khi không thể chịu nổi nữa. Khi
không chịu nổi nữa, người dân mới nhận ra rằng nếu cứ tiếp tục
sợ hãi và nhượng bộ như vậy, thì mình sẽ không còn đất để sống,
không còn điều kiện để sống cho ra con người nữa. Lúc đó họ buộc
phải vượt thắng bản năng sợ hãi để vùng lên đấu tranh. Lúc đó
họ đành liều chết để bảo vệ sự sống còn và quyền lợi tối thiểu
và chính đáng của họ, vì họ đã bị dồn vào chân tường. Nỗi sợ của
cả 2 (kẻ cai trị lẫn người bị trị) và việc hành động theo bản
năng sợ hãi ấy đều thiếu sáng suốt, không chỉ gây bất lợi cho
chính mình mà còn cho đại cuộc.
Một trong những cái ngu xuẩn nhất
của những kẻ cai trị là không biết giới hạn lòng tham và sự đàn
áp của mình, cứ dồn người dân của mình vào chân tường, bắt buộc
họ phải tự vệ chống lại. Với những kẻ cai trị có lòng tham vô
đáy, thì người dân càng tỏ ra sợ hãi và nhượng bộ thì họ càng
làm tới, cho tới lúc người dân chịu không nổi phải quyết liệt
phản ứng lại với bất cứ giá nào thì họ mới tạm thời ngưng đàn
áp. Những người khôn ngoan, biết suy nghĩ và có ý thức đấu tranh
thì không chịu chờ tới nước cùng mới phản ứng lại. Vì chờ tới
nước cùng thì mình và dân chúng đã bị thiệt hại quá lâu và quá
nhiều rồi. Nên họ phải lên tiếng đấu tranh, ngay khi nhận ra kẻ
đàn áp cứ được nước là lấn tới, không bao giờ chịu từ bỏ lòng
tham và tính ác độc của họ.
Nhà nước độc tài đang dồn người
dân vào cái thế không thể sợ hãi được nữa, vì nếu người dân cứ
tiếp tục sợ hãi, họ sẽ mất tất cả, không chỉ của cải, quyền sống,
mà đôi khi cả mạng sống. Không chỉ của bản thân mình, mà còn của
gia đình, xã hội mình nữa. Nếu chỉ một vài người thắng vượt được
sợ hãi mà lên tiếng đấu tranh, thì những kẻ cầm quyền độc tài
sẽ dễ dàng tiêu diệt họ. Nhưng nếu toàn dân đều thắng vượt được
sợ hãi, thì kẻ cầm quyền sẽ chẳng làm được gì, và họ sẽ phải nhượng
bộ. Nếu không vượt được bản năng sợ hãi, toàn dân sẽ cứ phải sống
trong cảnh nô lệ tủi nhục mãi.
Một dân tộc ươn hèn mà bị nô lệ
như thế thì cũng đáng kiếp! Nhưng dân tộc VN hy vọng không phải
là một dân tộc ươn hèn! Bí quyết để thoát khỏi cảnh nô lệ, chính
là thắng vượt được sợ hãi. Muốn thắng vượt được sợ hãi, phải dám
chấp nhận đau khổ, dám chấp nhận cả cái chết. Chấp nhận đau khổ,
chấp nhận cả cái chết không luôn luôn có nghĩa là sẽ đau khổ,
sẽ chết, nhưng đó chính là con đường giúp ta vượt qua đau khổ
và sự chết để được sống, và sống tự do hạnh phúc. Tình thương
đích thực sẽ giúp ta thắng vượt được sợ hãi, sợ đau khổ và sợ
chết. Như người mẹ yếu đuối chỉ vì thương con mãnh liệt nên dám
xông vào đám cháy để cứu con mình ra khi mà những người khác không
làm được. Tình thương đích thực, mạnh mẽ, sáng suốt đối với chính
bản thân, với gia đình, với xã hội và đất nước mình sẽ cứu mình
và toàn dân tộc thoát khỏi đau khổ và cảnh nô lệ, bất hạnh.
|