|
"Mọi người có quyền tự do
ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng
truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật,
hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác
theo sự lựa chọn của mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
TỰ
DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
IN
VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM
Địa chỉ liên lạc:
binhan2005@gmail.com
truongsonvn81@gmail.com
Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể
tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
|
Nhân dịp đầu xuân, chúng tôi xin
trình bày hai phương thức đấu tranh để tạo môi trường thuận lợi
cho công cuộc thực thi nhân quyền tại Việt Nam. Đó là việc phát
động Phong Trào Giã Từ Dối Trá và Thành Lập Hiến Chương Nhân Quyền.
Những phương thức đấu tranh bất bạo động này đã được chứng nghiệm
thành công tại Liên Xô và Tiệp Khắc.
Giã Từ Dối Trá là một phong trào do văn hào Aleksandr Solzhenitsyn
phát động tại Liên Xô trong hai thập niên 60 và 70.
Hiến Chương Nhân Quyền sẽ được soạn thảo phỏng theo Hiến Chương
77 với những biến chế cần thiết cho phù hợp với điều kiện đặc
thù của Việt Nam.
Hiến Chương 77 được các trí thức văn nghệ sĩ Tiệp Khắc công bố
năm 1977 sau khi hai Công Ước Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc được phê
chuẩn năm 1976. Tiệp Khắc đã ký các Công ước này năm 1968, và
Việt Nam đã gia nhập các Công ước năm 1982. Hiện nay khoảng 140
quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đã ký kết gia nhập các Công Ước
Quốc Tế Nhân Quyền. Vì các Công Ước đã được quốc hội phê chuẩn
nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.
Trong số 9 nước thuộc Hiệp Hội các nước Đông-Nam-Á (ASEAN), chỉ
có hai nước đã ký kết gia nhập Công ước là Phi Luật Tân và Việt
Nam. Phi Luật Tân đã biết vận dụng Quyền Lực của Nhân Dân (People’s
Power) để phát huy dân chủ. Việt Nam cũng sẽ khai mở kỷ nguyên
dân chủ nếu chúng ta - những người Việt trong và ngoài nước -
biết vận dụng đấu tranh đòi thực thi các nhân quyền ghi trong
luật pháp quốc gia, hiến pháp quốc gia và trong Luật Quốc tế Nhân
Quyền gồm hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền và Tuyên Ngôn Quốc Tế
Nhân Quyền. Đây là cuộc đấu tranh trường kỳ và liên tục. Vì chính
quyền nào cũng có khuynh hướng tập trung quyền lực nên phải thành
lập các hội dân sự và chính trị để đòi nhân quyền cho người dân.
I. GIÃ TỪ DỐI TRÁ
Trong kỷ nguyên thông tin, võ khí hiệu nghiệm nhất là nói lên
Sự Thật. Người dân phải lựa chọn giữa hai thái độ, hoặc thoả hiệp
với nhà cầm quyền mị dân và dối trá để mưu sống cho gia đình,
hoặc phản kháng sự dối trá để có thể bị trù dập và bao vây kinh
tế. Theo văn hào Nga Solzhenit-syn, con người không thể giáo dục
con cái bằng dối trá. Do đó mọi người phải cư xử và hành động
lương thiện để xứng đáng với lòng tin cậy của các con và lòng
kính mến của bạn bè. Muốn thế mọi người phải thường xuyên tâm
niệm:
1. Tôi sẽ không viết, ký tên hay in ấn một câu nào trái với sự
thật.
2. Tôi sẽ không nói một lời nào, trong các cuộc chuyện trò riêng
tư hay trước đám đông mà không đúng sự thật, dầu với tư cách cổû
động viên, giáo sư hay nghệ sĩ trình diễn.
3. Tôi sẽ không phổ biến một tư tưởng nào mà tôi cho là xuyên
tạc sự thật, dầu trong các tác phẩm hội họa, điêu khắc, điện ảnh,
âm nhạc hay khoa học kỹ thuật.
4. Tôi sẽ không trích dẫn một câu nói kinh điển nào để làm vừa
lòng nhà cầm quyền, nếu tôi không hoàn toàn tán thành ý nghĩa
và tác dụng của câu nói đó.
5. Tôi sẽ không chịu cưỡng bách tham dự một cuộc hội họp, biểu
tình nào trái với ý nguyện của tôi. Tôi cũng sẽ không nhận một
tờ truyền đơn nào hay trương một biểu ngữ nào với những khẩu hiệu
mà tôi không đồng ý.
6. Tôi sẽ không biểu quyết chấp thuận một đề nghị nào mà tôi không
tán thành, không giơ tay tín nhiệm hay bỏ phiếu cho một người
nào mà tôi nghi ngờ khả năng và thiện chí.
7. Tôi sẽ không tham gia một hội nghị nào để bàn về một vấn đề
mà tôi biết chắc sẽ có sự cưỡng bách hay xuyên tạc quan điểm của
người tham dự.
8. Tôi sẽ lập tức bước ra khỏi hội trường một cuộc mít tinh, diễn
thuyết, trình diễn nghệ thuật hay điện ảnh, khi thấy diễn giả
hay diễn viên nói sai sự thật, hay tuyên truyền vô lối cho một
ý thức hệ vô nghĩa.
9. Tôi sẽ không mua một tờ báo hay một tạp chí nào đăng tải những
tin tức sai lạc hay cố tình giấu diếm những sự thật cơ bản.”
Song song với 9 điều tâm niệm nói trên, các trí thức văn nghệ
sĩ còn có thể công bố lập trường trong các bản tuyên cáo chung
như Hiến Chương 77.
II. HIẾN CHƯƠNG 77
Năm 1975, 35 quốc gia Âu Châu và Bắc Mỹ họp tại Phần Lan để ký
Thỏa Ước Helsinki, cam kết tôn trọng các quyền tự do cơ bản của
con người.
Qua năm sau, 1976, hai Công ước Quốc tế Nhân quyền Liên Hiệp Quốc
được phê chuẩn để có hiệu lực chấp hành. Tại Tiệp Khắc, năm 1977,
Hiến Chương 77 được phổ biến mang chữ ký của 3 người: Jan Patocka,
Vaclav Havel và Jiri Hajek. Có trên 200 người ký tên hưởng ứng.
Hiến Chương kêu gọi chính phủ Tiệp Khắc - đã phê chuẩn hai Công
ước Quốc tế Nhân quyền và gia nhập Thoả ước Helsenki - phải tôn
trọng lời cam kết bằng cách thực sự thi hành nhân quyền.
Chính phủ Cộng sản Tiệp Khắc đàn áp và kết án những người chủ
xướng. Với chủ trương không bạo động và không nhượng bộ, mỗi năm
có 3 đại biểu mới đứng ra chịu trách nhiệm phổ biến các tài liệu
của Hiến Chương để sẵn sàng ngồi tù.
Tới năm 1989, có trên 1.500 người đã ký kết tham gia Hiến Chương.
Đồng thời với phong trào giải thể Cộng sản Đông Âu, cuối năm 1989,
cuộc Cách Mạng Dân Chủ Tiệp Khắc thành công. Người chủ xướng Hiến
chương 77, Vaclav Havel được bầu làm Tổng thống Tiệp Khắc đầu
tiên trong kỷ nguyên hậu Cộng sản.
Hiến Chương 77 viết:
“Tháng 10-1976, Công báo Luật pháp Tiệp Khắc đăng tải Công ước
Quốc tế về những Quyền Dân sự và Chính trị (CUDSCT) và Công ước
Quốc tế về những Quyền Kinh tế Xã hội và Văn hoá (CUKTXHVH). Các
Công ước này cũng được Tiệp Khắc ký năm 1968 và có hiệu lực chấp
hành năm 1976. Từ ngày đó, các công dân có quyền và Nhà nước có
nghĩa vụ phải hành động dưới sự chỉ đạo của các Công ước Quốc
tế Nhân quyền.
Những nhân quyền và những quyền tự do cơ bản của người dân được
thừa nhận bởi các hiệp ước quốc tế là những giá trị quan trọng
của nền văn minh nhân loại mà những lực lượng tiến bộ đã góp công
xây dựng trải qua bao thời đại. Sự công bố thành văn của các đạo
luật này sẽ góp phần đáng kể vào sự phát triển của xã hội chúng
ta.
Chúng ta hoan nghênh việc nước Cộng hoà Xã hội Tiệp Khắc đã gia
nhập các hiệp ước nầy.
Tuy nhiên do sự phổ biến của các Công ước, chúng ta ý thức rằng
rất nhiều nhân quyền cơ bản tại nước ta chỉ được ghi trên giấy
tờ. Đó là vấn đề chúng ta phải đối phó khẩn cấp.
Chẳng hạn như quyền tự do phát biểu được bảo đảm bởi điều 19.
Công ước thứ nhất (CUDSCT) thực chất chỉ là một ảo tưởng. Hàng
chục ngàn công nhân đã bị mất việc làm chỉ vì họ có quan điểm
khác với chính sách của nhà cầm quyền. Đồng thời họ còn bị kỳ
thị đủ thứ, bị hành hạ bởi nhà cầm quyền và các tổ chức công lập
(như các công đoàn, các hội văn hoá v.v...). Họ không có phương
tiện để tự biện hộ. Tóm lại, họ chịu làm nạn nhân của một chế
độ kỳ thị xã hội.
Hàng trăm ngàn công nhân khác đã không được “giải phóng khỏi sự
sợ hãi” - như Lời Mở đầu của Công ước thứ nhất đã hứa hẹn - vì
họ thường xuyên có nguy cơ mất việc làm và mất các cơ hội tiến
thân khác, nếu họ công khai nói lên lập trường của mình.
Chính quyền đã vi phạm Điều 13 Công ước thứ hai (CUKTXH-VH) bảo
đảm cho người dân được hưởng quyền giáo dục. Biết bao thanh thiếu
niên đã không được đi học chỉ vì họ hay cha mẹ họ có những quan
điểm không phù hợp với quan điểm “chính thống”. Biết bao công
dân khác đang phải sống trong lo âu. Họ không dám nói lên xác
tín của họ vì sợ rằng bản thân họ và con cái họ sẽ bị tước đoạt
quyền giáo dục.
Điều 19 khoản 2 Công ước thứ nhất (CUDSCT) bảo đảm cho người dân
quyền được tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức ý kiến, bằng
mọi phương tiện truyền thông, không kể biên giới quốc gia. Vậy
mà mới đây các nhạc sĩ trẻ đã bị đưa ra toà xét xử về tội hình
sự. Trong khi đó bao nhiêu văn nghệ sĩ khác đã bị kết án về mặt
ngoại tư pháp (do dư luận, báo chí, hội đoàn...). Quyền tự do
phát biểu đã bị tước đoạt. Mọi phương tiện truyền thông và hoạt
động văn hoá đã bị chính phủ kiểm soát chặt chẽ. Không một tác
phẩm chính trị, triết học hay khoa học nghệ thuật nào được ấn
hành nếu có đôi chút tư tưởng khác biệt với tư tưởng của nhà cầm
quyền. Mọi phê bình công khai về những tệ nạn xã hội đều bị cấm
đoán. Trái với điều 17 Công ước thứ nhất (CUDSCT) quy định quyền
được luật pháp bảo vệ danh dự và nhân phẩm, các nạn nhân không
có phương tiện để tự biện minh trước những nhục mạ và phỉ báng
của bộ máy chính quyền. Người dân bị vu cáo mà không được quyền
cãi lại. Mọi quyền khiếu tố để đòi phục hồi danh dự và bồi thường
thiệt hại đều tỏ ra vô hiệu. Không có sự công khai đối thoại về
các tác phẩm văn hoá hay trí thức. Rất nhiều học giả, trí thức
văn nghệ sĩ và công dân đã bị kỳ thị trù dập vì trước kia họ đã
dám công khai phát biểu những quan điểm bị nhà cầm quyền lên án.
Quyền tự do tôn giáo được long trọng xác nhận trong điều 18 Công
ước thứ nhất (CUDSCT), đã bị hạn chế một cách hệ thống bởi nhà
cầm quyền chuyên chế. Các hoạt động tông đồ của các giáo sĩ thường
bị ngăn cản. Họ thường xuyên bị đe dọa thu hồi giấy phép hoạt
động tôn giáo hay giảng dạy giáo lý, nếu bằng lời nói và hành
động, họ dám bày tỏ tín ngưỡng của mình.
Những quyền dân sự ghi trong các Công ước đã bị tước đoạt. Vì
theo hệ thống tổ chức, mọi cơ chế nhà nước phải đặt dưới quyền
lãnh đạo của đảng cầm quyền do những nghị quyết chính trị của
cá nhân lãnh tụ đảng. Hiến pháp và luật pháp quốc gia không được
tham chiếu trong các nghị quyết nói trên. Do đó người dân không
hay biết mà cũng không có quyền kiểm soát về hình thức và nội
dung các nghị quyết. Đảng không chịu trách nhiệm trước quốc dân
hay trước đại biểu của nhân dân. Đảng cầm quyền chi phối mọi hành
động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, công đoàn và
các tổ chức công quyền khác. Các nghị quyết này có giá trị cao
hơn luật pháp và trực tiếp ảnh hưởng đến các chính đảng khác,
các công ty và công xưởng, các tổ chức và cơ chế. Khi có mâu thuẫn
giữa các tổ chức hay tư nhân trong việc giải thích nghị quyết,
người dân không có cơ quan vô tư nào để khiếu nại. Đây là những
vụ vi phạm quyền tự do hội họp và lập hội, cũng như quyền bình
đẳng trước pháp luật và quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính
quyền qui định ở các điều 21, 22, 25 và 26 Công ước thứ nhất (CUDSCT).
Trong điều kiện hiện tại, các công nhân viên không được hành sử
quyền tự do thành lập nghiệp đoàn và quyền đình công dự liệu ở
điều 8 Công ước thứ hai (CUKTXHVH).
Ngoài ra, những quyền dân sự của người dân (quyền an cư) cũng
bị vi phạm trắng trợn như quyền riêng tư về đời tư, gia đình,
nhà ở và thư tín (Điều 17 Công ước thứ nhất). Bộ Nội vụ kiểm soát
đời sống của người dân bằng cách nghe lén điện thoại, đặt máy
ghi âm tại các tư gia, duyệt xét thư tín, cho người theo dõi lục
soát nhà cửa, tổ chức mạng lưới mật báo viên. Bộ cũng can thiệp
vào các quyết định của các giám đốc xí nghiệp, xúi giục những
hành động kỳ thị của các cơ quan bằng các chiến dịch và trên báo
chí. Tất cả những âm mưu bí mật này đều qua mặt pháp luật, và
công dân không có cách gì để chống lại.
Trong các vụ án chính trị, các cơ quan điều tra và tài phán đã
vi phạm những quyền của bị cáo ghi tại điều 14 Công ước thứ nhất
cũng như trong luật pháp quốc gia. Các tư nhân trong các trại
giam bị đối xử tàn nhẫn, mất nhân phẩm, sức khoẻ bị thương tổn
và tinh thần bị chà đạp.
Quyền tự do xuất ngoại và hồi hương ghi trong điều 12 Công ước
thứ nhất bị vi phạm nghiêm trọng. Viện lý do bảo vệ an ninh quốc
gia, nhà nước đã đặt ra những điều kiện xuất ngoại không thực
hiện được. Các công dân ở nước ngoài muốn về thăm quê hương cũng
bị làm khó dễ. Họ thường bị bác đơn xin chiếu khán nhập cảnh,
nếu trước kia họ đã từng hoạt động hay đã liên lạc với những thành
phần bị kỳ thị ở trong nước. Một số công dân đã lên tiếng tố giác
những vụ vi phạm nhân quyền tại nơi làm việc, hoặc qua truyền
thông ngoại quốc để yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên không ai trả
lời các thỉnh nguyện này, hơn nữa chính quyền còn mở cuộc điều
tra người tố giác.
Trách nhiệm bảo vệ các quyền tự do dân sự thuộc về chính quyền
quốc gia. Ngoài ra bất cứ ai lo toan đến những vấn đề chung của
đất nước cũng phải góp phần vào việc thượng tôn luật pháp và hiệp
ước. Do đó cả chính phủ và các công dân cũng bị ràng buộc bởi
luật pháp quốc tế.
Ý thức về nghĩa vụ liên đới cũng như tin tưởng vào ý nghĩa tham
dự và ý chí dấn thân của các công dân trong việc tìm kiếm một
phương thức thực hiện hữu hiệu hơn, chúng tôi soạn thảo Hiến Chương
77 và công bố trước quốc dân hôm nay. Hiến Chương 77 là sự kết
hợp tự do, không nặng về nghi thức, được mở rộng cho tất cả mọi
người thuộc mọi quan niệm, tín ngưỡng và nghề nghiệp, để cùng
nhau góp sức đẩy tới mục tiêu tôn trọng nhân quyền và các quyền
tự do cơ bản tại đất nước chúng ta cũng như trên thế giới. Những
quyền này đã được hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền bảo đảm cùng
với Thoả Ước Helsinki và các Công ước quốc tế chống chiến tranh,
bạo động và mọi hình thức đàn áp về xã hội và tinh thần. Những
quyền này cũng được quy định trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
LHQ.
Hiến Chương 77 bắt nguồn từ sự đoàn kết và thân hữu của những
người cùng chia sẻ những lý tưởng gắn liền với đời sống và công
việc của họ. Hiến Chương 77 không phải là một tổ chức. Nó không
có nội quy điều lệ, không có ban chấp hành thường xuyên và cũng
không có danh sách các hội viên đăng ký. Bất cứ ai đồng quan điểm,
cùng hoạt động hay yểm trợ đều là người của H.Chương.
Hiến Chương 77 không phải là một cơ sở hoạt động của một đảng
đối lập chính trị. Nó chỉ nhằm phục vụ những quyền lợi tổng quát
của cộng đồng như nhiều hội dân sự khác đã làm tại các nước Tây
phương và Đông phương. Do đó nó không có ý định đưa ra những đường
lối cải tổ hay hoặc thay đổi về chính trị hay xã hội. Hiến Chương
77 chủ trương đối thoại với chính quyền, đặc biệt nêu lên những
trường hợp vi phạm nhân quyền để tìm ra giải pháp, đưa ra những
đề nghị tổng quát nhằm tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, đứng làm
trung gian điều giải những vụ tranh chấp thường xảy ra do sự thiếu
vắng quyền sinh hoạt chính trị.
Theo danh xưng, Hiến Chương 77, khai sinh năm nay (1977), đánh
dấu Năm Tù nhân Chính trị và cũng là thời điểm Hội nghị Belgrade
nhóm họp để tìm ra những phương thức thực thi các điều khoản của
Thoả ước Helsinki.
Những người ký tên vào Hiến Chương 77 đã ủy nhiệm Giáo sư Tiến
sĩ Jan Patocka, Tiến sĩ Danh dự Vaclav Havel và Giáo sư Tiến sĩ
Jiri Hajek làm phát ngôn viên cho Hiến Chương. Các phát ngôn viên
này được quyền đại diện Hiến Chương 77 trong các tương quan với
nhà nước cũng như các tổ chức, hội đoàn và quần chúng trong và
ngoài nước. Do chữ ký của họ, các phát ngôn viên chứng thực nội
dung các văn kiện của Hiến Chương. Họ sẽ chỉ định các phụ tá trong
số những người đã ký kết hay những người sẽ gia nhập về sau, để
cùng với họ tham dự những cuộc thương thảo cần thiết, thực hiện
những công tác phải làm và cùng nhau chia sẻ trách nhiệm.
Chúng tôi tin tưởng rằng Hiến Chương 77 sẽ góp phần tạo cơ hội
cho các công dân Tiệp Khắc được sống và làm việc như một dân tộc
tự do...”
|