Bán Nguyệt San - Số 5 * 15 tháng Sáu, 2006

 
 

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình".
      (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982.
     

Trong số này:

TỰ DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
     IN VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM


   
Địa chỉ liên lạc:
   binhan2005@gmail.com
   truongsonvn81@gmail.com
     
   Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
     
   hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
  
   Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
     


     

     Năm 1986, khi nhận Giải Hòa Bình Nobel, nhà văn Elie Wiesel đã minh thị cam kết: "Tôi thề sẽ không bao giờ im tiếng nếu ở đâu và khi nào con người còn bị đau khổ và đầy đọa. Chúng ta phải nhập cuộc. Trung lập chỉ có lợi cho kẻ đàn áp. Im lặng là khuyến khích kẻ áp bức. Do đó chúng ta phải can thiệp. Khi đời sống con người bị đe dọa, phẩm giá con người bị chà đạp, các biên thùy quốc gia không còn quan trọng nữa. Nơi nào con người bị hành hạ vì lý do tôn giáo, chính trị hay chủng tộc, nơi đó lập tức trở thành trung tâm của vũ trụ."
      Từ 3 thập niên Việt Nam là địa bàn hoạt động mà cũng là môi trường sinh động của những cuộc tranh luận và lên tiếng về nhân quyền. Ở đây nhân phẩm bị chà đạp, đời sống của người dân bị đe dọa, con người bị đàn áp vì lý do tôn giáo, chính trị, chủng tộc hay thành phần xã hội.
      Đặc biệt là, sau cuộc Cách Mạng Dân Chủ tại Đông Âu và Liên Xô, từ năm 1991 (với vụ án Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế) đến năm 2004 (với vụ án Mục Sư Nguyễn Hồng Quang) có ít nhất 22 tù nhân chính trị và tù nhân tôn giáo đã bị bắt giữ, truy tố và kết án về những tội danh giả tạo hay cưỡng ép như phản nghịch, gián điệp, phá hoại chính sách đoàn kết quốc gia, tuyên truyền chống nhà nước, lợi dụng quyền tự do dân chủ v.v... Không tháng nào không thấy những vụ đàn áp khủng bố, hăm dọa sách nhiễu, điều tra giam giữ hay kết án oan ức các công dân lương thiện có lòng với đất nước và có dũng cảm đứng lên đòi Tự Do, Công Lý, Dân Chủ và Nhân Quyền.
      Để phản ứng lại, các Chính Phủ và Quốc Hội các nước dân chủ tiên tiến, Các Hội Bảo Vệ Nhân Quyền trên thế giới, các Nghiệp Đoàn Ký Giả Không Biên Cương và các Tổ Chức Văn Bút Quốc Tế đồng thanh cảnh giác nhà cầm quyền Hà Nội về những vi phạm nhân quyền, đồng thời phản kháng và đòi nhà cầm quyền phải tôn trọng nhân quyền bằng cách trả tự do cho các tù nhân lương tâm.
      Nếu nhân quyền có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với nhau thì sự can thiệp và nhập cuộc của nhân loại văn minh cũng có tính toàn cầu, thường xuyên, tức thời và đồng bộ.
      Ngày nay, theo quan niệm nhà văn Elie Wiesel, Việt Nam đã làm thức tỉnh lương tâm nhân loại và trở thành trung tâm của vũ trụ.
      Trình bầy về những vấn đề nhân quyền tại Việt Nam nhằm đề xướng, phát huy, tôn trọng và thực thi quyền con người tại Việt Nam. Đồng thời để góp phần vào việc tìm kiếm các phương thức nhằm loại trừ hữu hiệu những vi phạm nhân quyền trên thế giới.
      Trong chiều hướng đó, soạn thảo và công bố bản Tường Trình Liên Hiệp Quốc về vấn đề Nhân Quyền tại Việt Nam không phải chỉ để dành riêng cho người Việt, mà còn để thúc đẩy các dân tộc và các quốc gia đang trên đường phát triển tại Á Phi và Châu Mỹ La Tinh hội nhập vào trào lưu dân chủ hóa và toàn cầu hóa.
      Có như vậy nhân quyền mới được thực sự tôn trọng và thực thi đem lại tự do hạnh phúc cho con người, hòa giải thân thiện cho các quốc gia, thông cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế Giới Đại Hòa trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị.
      Đây là giấc mơ ngàn đời của nhân loại theo đó người trong bốn biển đều là anh chị em.

***

Muốn xây dựng tự do dân chủ cho Việt Nam đường lối hữu hiệu nhất là đấu tranh cho nhân quyền. Vì nhân quyền là mục tiêu chung của những người Việt Nam yêu nước, là mẫu số chung để kết hợp lòng người.
      Từ khi con người biết sống hợp quần trong xã hội để thành lập quốc gia, giữa người dân và quốc gia có những nghĩa vụ hỗ tương phát sinh từ một khế ước mặc nhiên mệnh danh là khế ước xã hội. Chiếu khế ước này người dân có nghĩa vụ phải đóng thuế để nuôi dưỡng quốc gia, phải đi lính để bảo vệ bờ cõi của quốc gia. Để đáp lại những hy sinh về sinh mạng và tài sản của người dân, quốc gia cũng có nghĩa vụ phải bảo đảm cho người dân những quyền cơ bản như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó là những dân quyền xuất phát từ tư cách công dân.
      Nhân quyền bao quát hơn và có trước dân quyền. Nhân quyền xuất phát từ nhân phẩm, từ giá trị bẩm sinh của con người. Đây là những quyền của con người như những quyền dân sự chính trị mà cũng là những nhu cầu của con người như những quyền kinh tế xã hội và văn hóa. Những quyền này xuất phát từ tư cách con người và tư cách công dân.
      Các nước tự do dân chủ đặt vấn đề nhân quyền toàn diện, gồm cả những quyền kinh tế xã hội (cơm ăn áo mặc, y tế giáo dục) và những quyền dân sự chính trị (tự do nhân thân, tự do tinh thần, tự do chính trị).
      Kinh nghiệm cho biết những vấn đề kinh tế xã hội chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng trong chế độ tự do dân chủ. Vì nếu không có một chính phủ dân chủ thì những lợi ích kinh tế đạt được rồi cũng sẽ bị phe cầm quyền tước đoạt bằng tham nhũng và lạm quyền.
      Năm 1941, tại diễn đàn Quốc Hội Hoa Kỳ, Tổng Thống Franklin Roosevelt đề xướng 4 quyền tự do cơ bản:
      1. Tự do ngôn luận.
      2. Tự do tín ngưỡng.
      3. Quyền được giải thoát khỏi sự túng thiếu.
      4. Quyền được giải thoát khỏi sự sợ hãi, sợ hãi do nạn xâm lược bên ngoài và chuyên chế bên trong.
      Lời Mở Đầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng nhắc lại 4 quyền cơ bản này: "Việc đạt tới một thế giới trong đó mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, được giải thoát khỏi sự sợ hãi và sự khốn cùng, được tuyên dương là nguyện vọng cao cả nhất của con người."
      Chiếu Hiến Chương Liên Hiệp Quốc các quốc gia hội viên cam kết cộng tác với Liên Hiệp Quốc trong việc tôn trọng và thực thi nhân quyền trên toàn cầu (Điều 55-56).
      Vì nhân quyền có tính toàn cầu, bất khả phân, liên lập và liên quan với nhau, quốc gia có trách nhiệm tiên khởi và có nghĩa vụ phải thực sự thi hành đầy đủ và đồng đều nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, tôn giáo, chính kiến, hay thành phần xã hội.
      Với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, vấn đề nhân quyền đã được quốc tế hóa. Từ nay các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc không thể chủ trương rằng việc họ thủ tiêu, tàn sát hay đàn áp các công dân của họ chỉ là vấn đề nội bộ!
      Để kỷ niệm ngày ban hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, ngày 10 tháng 12 mỗi năm được gọi là Ngày Quốc Tế Nhân Quyền.
      Năm 1994, Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Nghị Quyết Chung lấy ngày 11 tháng 5 mỗi năm là Ngày Nhân Quyền cho Việt Nam. Nghị Quyết này đã được Tổng Thống Hoa Kỳ phê chuẩn và ban hành để trở thành Luật Công Pháp ngày 25-5-1994 (số 103.258), với nội dung chủ yếu như sau:
      "Quốc Hội Hoa Kỳ yêu cầu Chính Phủ Hà Nội:
      1. Phóng thích tất cả các tù nhân chính trị.
      2. Bảo đảm cho nhân dân Việt Nam quyền bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt tín ngưỡng, chính kiến, hay đoàn thể trong quá khứ.
      3. Phục hồi các nhân quyền cơ bản như tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại và tự do lập hội.
      4. Bãi bỏ chế độ độc đảng.
      5. Công bố một phương án và lịch trình tổ chức tổng tuyển cử tự do và công bằng dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc để nhân dân Việt Nam được hành sử quyền dân tộc tự quyết.
      Lập trường chung thủy của Nhân Dân và Quốc Hội Hoa Kỳ đem lại hứng khởi cho Nhân Dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi Tự Do, Công Lý, Dân Chủ và Nhân Quyền.
      Luật Quốc Tế Nhân Quyền: Nhân quyền và những quyền tự do cơ bản được quy định trong Luật Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành sau Thế Chiến 2. Mục đích để đề cao nhân phẩm, đem lại tự do hạnh phúc cho con người, hoà giải thân thiện cho các quốc gia, thông cảm bao dung cho các dân tộc, tiến tới một Thế Giới Đại Hòa trong tinh thần bình đẳng, hợp tác và hữu nghị.
      Luật Quốc Tế Nhân Quyền bao gồm những điều khoản nhân quyền trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945), Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) và Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1998), Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị (1966) và Công Ước Quốc Tế về những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa (1966). Ngòai ra còn có hơn 50 Công Ước bổ túc và khai triển.
      Luật Quốc Tế Nhân Quyền là văn kiện pháp lý quan trọng nhất trong thời đại chúng ta. Hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là hai hiệp ước quốc tế quan trọng nhất trong lịch sử loài người.
      Bước sang thiên niên kỷ mới, chúng ta kỳ vọng rằng, rồi đây bạo lực sẽ nhường chỗ cho thuyết phục, chiến trường sẽ nhường chỗ cho hội trường và chiến tranh thế giới sẽ bị thay thế bởi luật pháp quốc tế. Trong niềm tin tưởng đó chúng ta công bố bản Tường Trình Liên Hiệp Quốc về Vấn Đề Nhân Quyền tại Việt Nam.
      Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng Quyền Dân Tộc Tự Quyết và 26 Nhân Quyền cơ bản.
      Quyền Dân Tộc Tự Quyết: Quyền thiết yếu trong chế độ dân chủ là quyền dân tộc tự quyết.
      Dân tộc tự quyết là quyền của người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia, và tự do lựa chọn các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.
      Dân tộc tự quyết gồm có quyền tự do tuyển cử và quyền tham gia chính quyền để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị. Lời Mở Đầu Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền cũng nhận định rằng: "Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng phải nổi dậy chống áp bức và bạo quyền."
      Các Nhân Quyền Cơ Bản: Năm 1977, khi gia nhập Liên Hiệp Quốc, Việt Nam cam kết thi hành Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (1945) và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948). Năm 1982 Việt Nam tham gia hai Công Ước Quốc Tế về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa, nên có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng các Công Ước này. Đó là các hiệp ước quốc tế đã được quốc hội phê chuẩn nên có giá trị pháp lý cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.
      Ngoài Quyền Dân Tộc Tự Quyết, Luật Quốc Tế Nhân Quyền đề xướng 26 Nhân Quyền Cơ Bản chia thành 4 loại như sau:
      1) Những quyền dân sự cho bản thân con người (hay Quyền Tự Do Nhân Thân)
      2) Những quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội (hay Quyền An Cư)
      3) Những quyền kinh tế xã hội và văn hóa (hay Quyền Lạc Nghiệp)
      4) Những quyền tự do tinh thần và tự do chính trị (hay Quyền Tự Do Dân Chủ)
      Tự do nhân thân thuộc về thân
      Tự do tinh thần và tự do chính trị thuộc về tâm.
      Cùng với những quyền an cư và lạc nghiệp, mục tiêu tối hậu của nhân quyền là tạo điều kiện cho con người được thân tâm an lạc.
      Quyền Tự Do Nhân Thân:
      Để kết nối 8 Quyền Tự Do Nhân Thân chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
      1) Con người có nhân quyền từ khi mới sinh. Cha mẹ sinh ra ta và cho ta Quyền Sống. Tòa Án Hình Sự Quốc Tế trừng phạt những tội chống nhân loại như thủ tiêu cá nhân và tàn sát tập thể.
      Muốn sống cho ra sống phải có tự do thân thể và an ninh thân thể.
      2) Có tự do thân thể thì Không Bị Nô Lệ hay Nô Dịch (như nô lệ tình dục).
      3) Có an ninh thân thể thì Không Bị Tra Tấn Hành Hạ.
      4) Có an ninh thân thể thì Không Bị Giam Giữ Độc Đoán.
      5) Nếu bị bắt giam và bị truy tố ra tòa thì Được Xét Xử Công Bằng.
      6) Nếu sự xét xử không công bằng và bị tuyên phạt oan ức thì Được Tòa Án Bảo Vệ bằng cách buộc nhà nước phải bồi thường thiệt hại.
      7) Tòa Án bảo vệ con người căn cứ vào luật pháp. Luật Pháp cũng Bảo Vệ Con Người. Luật Pháp không công nhận các tội giả tạo như "tuyên truyền chống nhà nước" hay "lợi dụng quyền tự do dân chủ".
      8) Luật pháp bảo vệ con người một cách đồng đều không phân biệt kỳ thị. Mọi người đều có tư cách pháp nhân để được Quyền Bình Đẳng Trước Pháp Luật.
      Đó là 8 quyền dân sự cho bản thân con người mệnh danh là Quyền Tự Do Nhân Thân.
      Quyền An Cư:
      Để kết nối 6 Quyền An Cư, chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
      1) Quyền An Cư trước hết là quyền tự do cư trú và đi lại. Chính sách quản chế hành chánh phải bị bãi bỏ.
      2) Muốn có một đời sống an cư trong xã hội, đời tư và danh dự của con người phải được tôn trọng. Đó là quyền riêng tư.
      3) Quyền riêng tư áp dụng cho bản thân và gia đình vì con người có quyền kết hôn và lập gia đình.
      4) Gia đình là một đơn vị của xã hội. Con người sống trong quốc gia xã hội và được quốc gia ban cho quyền quốc tịch để trở thành công dân.
      5) Nếu bị quốc gia đàn áp sống không nổi, con người có quyền rời bỏ quốc gia để đi tỵ nạn tại các quốc gia khác.
      6) Muốn bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống an lạc, con người phải có quyền tư hữu.
      Đó là 6 quyền dân sự của con người trong đời sống xã hội mệnh danh là Quyền An Cư.
      Quyền Lạc Nghiệp:
      Để kết nối 8 Quyền Lạc Nghiệp là những quyền kinh tế xã hội và văn hóa, chúng ta hãy vận dụng luồng tư tưởng:
      1. Muốn lạc nghiệp phải có cơ hội hành nghề và được quyền làm việc.
      2. Khi làm việc phải được trả lương tương xứng và công bằng. Để có bình đẳng giao ước phải công nhận cho công nhân quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công.
      3. Làm việc để có mức sống khả quan cho bản thân và gia đình.
      4. Nếu không thể làm việc được, không thể tự lực mưu sinh được, thì được quyền an sinh xã hội.
      5. Quyền an sinh xã hội còn áp dụng cho các sản phụ, hài nhi và thiếu nhi trong chính sách bảo trợ gia đình. Các gia đình có con nhỏ và có lợi tức yếu kém được hưởng trợ cấp tài chánh và trợ cấp y tế.
      6. Quyền y tế miễn phí được phổ cập cho tất cả mọi người trong các nước dân chủ xã hội Bắc Âu.
      7. Giáo dục tiểu học phải được cưỡng bách và miễn phí. Giáo dục trung học và đại học cũng phải tiến dần đến miễn phí.
      8. Có giáo dục mới có văn hóa. Về mặt kinh tế, tác quyền của văn nghệ sĩ và các sáng chế phát minh của nhà khoa học phải được quốc gia bảo vệ. Về mặt tinh thần, tự do sáng tác của văn nghệ sĩ và tự do nghiên cứu của nhà khoa học phải được quốc gia tôn trọng.
      Từ đó chúng ta bước sang những Quyền Tự Do Tinh Thần và Tự Do Chính Trị mệnh danh là Quyền Tự Do Dân Chủ.
      Quyền Tự Do Dân Chủ:
      Trước hết là những quyền tự do tinh thần như tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo (quyền thứ nhất).
      Kế tiếp là những quyền tự do chính trị như tự do tư tưởng và tự do phát biểu, tự do ngôn luận và báo chí (quyền thứ hai).
      Có tư tưởng, có tin tức, ý kiến, phải có cơ hội trao đổi tư tưởng, trao đổi tin tức, ý kiến bằng tự do hội họp, tự do lập hội và tự do lập đảng (quyền thứ ba).
      Các cá nhân và chính đảng có những chủ trương đường lối ích quốc lợi dân phải có cơ hội thực thi chủ trương này bằng quyền tham gia chính quyền và tự do tuyển cử (quyền thứ tư). Chế độ độc tài toàn trị phải bị bãi bỏ.
      Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền nhấn mạnh về nghĩa vụ của mọi người phải "bảo vệ dân chủ, đề xướng và phát huy các xã hội dân chủ, các định chế dân chủ và các thủ tục sinh hoạt dân chủ".
      Quyền Tham Gia Chính Quyền (quyền thứ 26) kết nối với Quyền Dân Tộc Tự Quyết để hoàn thành sợi dây chuyền xuyên suốt. Đây là sợi dây chuyền kết bằng 26 viên ngọc trai chúng ta dành riêng để tặng đồng bào trong nước.

* * *

      Về mặt thực thi, trong 60 năm, chính quyền Cộng Sản đã thường xuyên và thô bạo vi phạm tất cả 26 nhân quyền và những quyền tự do căn bản của con người.
      Vi Phạm Quyền Tự Do Nhân Thân:
      1) Vi phạm quyền sống của con người bằng cách thủ tiêu cá nhân và tàn sát tập thể.
      Thủ tiêu những nguời quốc gia yêu nước như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm trong Nhóm Tân Tả Phái; Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu trong các Nhóm Lập Hiến; Đức Huỳnh Phú Sổ (Hòa Hảo); Trương Tử Anh (Đại Việt); Lý Đông A (Duy Dân); Khái Hưng (Quốc Dân Đảng) v...v...
      Tàn sát tập thể vì lý do tôn giáo như sát hại các tín đồ Cao Đài và Hòa Hảo trong Chiến Tranh Đông Dương; vì lý do đảng phái như sát hại các cán binh Đồng Minh Hội, Quốc Dân Đảng, Đại Việt, Duy Dân v.v... từ thập niên 1940; vì lý do giai cấp như sát hại 200 ngàn trí thức và nông dân tiểu tư sản trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất đầu thập niên 1950; vì lý do chính kiến như sát hại 5 ngàn người quốc gia tại Huế trong dịp Tết Mậu Thân (1968).
      2) Vi phạm quyền tự do thân thể như dung túng việc mua bán các phụ nữ và thiếu nhi Việt Nam để làm nô lệ tình dục và hộ lý tập thể tại một số quốc gia Đông Nam Á.
      3) Vi phạm quyền an ninh thân thể bằng cách hành hạ tra tấn các bị can và tù nhân, giam giữ độc đoán các tù nhân lương tâm như Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình v...v... Ngoài ra Đảng Cộng Sản còn giam giữ độc đoán hàng trăm ngàn quân cán chính và trí thức văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong các trại lao cải, bắt làm nô dịch, hành hạ thân xác, làm mất nhân phẩm và làm phương hại đến khả năng thể chất và tinh thần của tù cải tạo.
      4) Vi phạm quyền được xét xử công bằng do các thẩm phán không độc lập, không vô tư, không am tường pháp luật và không tôn trọng quyền biện hộ của bị can.
      5) Vi phạm quyền được tòa án và luật pháp bảo vệ. Thay vì để ban phát công lý cho người dân và bảo vệ con người về sinh mạng, tự do, danh dự và tài sản, tòa án luật pháp đã biến thành công cụ để đàn áp đối lập và củng cố chế độ độc tài toàn trị.
      6) Vi phạm quyền bình đẳng trước pháp luật bằng kỳ thị tôn giáo, kỳ thị giai cấp và phân biệt đối xử đối với các sắc dân thiểu số và các thành phần xã hội có chính kiến khác biệt với đường lối chính sách của nhà cầm quyền.
      Vi Phạm Quyền An Cư:
     Hiện nay nhà cầm quyền Hà Nội đã vi phạm nghiêm trọng những quyền an cư của người dân như:
      1) Quyền tự do cư trú và đi lại bằng cách quản thúc tại gia các nhà tu hành như Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Đạo Trưởng Lê Quang Liêm, Mục Sư Nguyễn Hồng Quang v...v... và các nhà đối kháng như Hoàng Minh Chính, Nguyễn Đan Quế, Trần Khuê, Phạm Quế Dương, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc v... v...
      2) Họ không tôn trọng danh dưĩ của người dân. Họ vận dụng báo chí và các đài truyền thông để phỉ báng và nhục mạ các phần tử đối kháng mà không cho trả lời hay đối thoại. Ngoài ra họ còn vi phạm thô bạo quyền riêng tư bằng cách xâm phạm đời tư, lục soát nhà cửa, duyệt xét thư tín, nghe lén điện thoại và tổ chức mạng lưới mật báo viên để theo dõi và trấn áp tinh thần người dân.
      3) Do Nghị Định 31/CP năm 1997 họ đã ban hành Quy Chế Quản Chế Hành Chánh để bắt giam phòng ngừa các phần tử đối kháng, cấm không được di chuyển, không được hành nghề, không được tiếp xúc với quần chúng, không được trả lời phỏng vấn, không được gia nhập hội đoàn và không được tham gia chính quyền.
      Sự quản chế hành chánh đã vi phạm quyền của người dân được suy đoán là vô tội, quyền không bị giam giữ độc đoán, quyền được tòa án xét xử công bằng, quyền được luật pháp bảo vệ, quyền tự do cư trú và đi lại, quyền riêng tư, quyền làm việc, quyền tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do tuyển cử, và quyền tham gia chính quyền.
      4) Hơn nữa Đảng Cộng Sản đã viện dẫn chủ nghĩa quốc tế vô sản để phủ nhận quyền tư hữu của người dân. Họ phát động đấu tranh giai cấp bằng cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp để tước đoạt tài sản của các giới tư sản thành thị và tiểu tư sản nông thôn.
      Bằng sự tước đoạt tư hữu của người dân, phủ nhận kinh tế thị trường, cũng như bằng dĩ công vi tư, tham nhũng và bất lực, phe lãnh đạo Cộng Sản đã đưa dân tộc và đất nước đến lầm than đói khổ. Trong khi đó họ đã sang đoạt tất cả tài sản quốc gia để làm giầu bất chánh và đã trở thành những triệu phú và tỉ phú mỹ kim.
      Vi Phạm Quyền Lạc Nghiệp:
     Về mặt kinh tế xã hội nhà cầm quyền Hà Nội đã tước đoạt quyền mưu cầu hạnh phúc và không giữ lời cam kết đem lại cơm no áo ấm và công bằng xã hội cho người dân. Họ đã áp dụng chính sách kinh tế quốc doanh để tập trung và chiếm đoạt tất cả các tài sản quốc gia. Họ đã thất bại trong việc đem lại cho người dân một mức sống khả quan, có công ăn việc làm, được trả lương tương xứng và công bằng, được quyền an sinh xã hội, quyền bảo trợ gia đình v.v...
      Việt Nam ngày nay là một trong những nước nghèo đói nhất thế giới, kém cả Congo. Lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/45 tại Tân Gia Ba, 1/26 tại Đài Loan, 1/25 tại Đại Hàn, 1/8 tại Mã Lai, 1/5 tại Thái Lan, 1/2 tại Phi Luật Tân, 3/5 tại Nam Dương, và chỉ bằng 3/4 tại Congo. Theo Encyclopedia Britannica Book of The Year 2005, lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam năm 2003 là 480 mỹ kim so với 640 mỹ kim tại Congo.
      Hơn nữa những bất công và bất bình đẳng xã hội trầm trọng đã gây nên sự chênh lệch giàu nghèo quá đáng khiến cho lợi tức thực sự của người dân trung bình tại nông thôn chỉ bằng nửa con số lý thuyết 480 mỹ kim một năm. Và Việt Nam ngày nay là một trong những nước nghèo đói nhất trên thế giới, kém cả Congo và ngang Bắc Hàn (với 457 mỹ kim một năm).
      Nhà cầm quyền Hà Nội còn vi phạm quyền tự do nghiệp đoàn và chỉ thành lập các công đoàn quốc doanh. Họ không cho phép công nhân hành sử quyền đình công tại nhiều khu vực.
      Đặc biệt họ đã vi phạm Công Ước Kinh Tế Xã Hội Văn Hóa Liên Hiệp Quốc mà họ đã tham gia năm 1982. Theo Công Ước này nhà nước phải thành lập trong vòng 2 năm một hệ thống giáo dục tiểu học cưỡng bách vaụ miễn phí. Do đó, kể từ năm 1984, nhà cầm quyền Hà Nội đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ tổ chức một nền giáo dục tiểu học cưỡng bách và miễn phí. "Tiên học phí hậu học văn" là chính sách ngu dân gây nên nạn chậm tiến và lạc hậu cho quốc gia dân tộc trong những thập kỷ và thế kỷ tới đây.
      Nhà cầm quyền Hà Nội còn vi phạm quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ. Họ quan niệm những người làm văn học nghệ thuật chỉ là những "văn công" phục vụ chính sách độc tài tư tưởng. Họ đã đàn áp và bắt giam các trí thức văn nghệ sĩ trong Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chỉ vì có những bài viết và ý nghĩ khác với chủ trương đường lối của Đảng Cộng Sản.
      Vi Phạm Quyền Tự Do Tinh Thần Và Tự Do Chính Trị
      1. Vi phạm Quyền Tự Do Tôn Giáo.
      Nhà cầm quyền Hà Nội đã vi phạm thô bạo quyền tự do tôn giáo với quyền thờ phụng, quyền truyền giáo và hành đạo. Họ đã giam giữ độc đoán các nhà tu hành, tước đoạt tư cách pháp nhân của các giáo hội dân lập, không cho các giáo hội được sinh hoạt tự trị, và không được sử dụng các cơ sở văn hóa giáo dục và xã hội từ thiện để hoằng dương đạo pháp.
      Các bản tường trình mới đây của Chính Phủ Hoa Kỳ và của Phái Bộ Điều Tra Liên Hiệp Quốc xác nhận nhà cầm quyền Hà Nội đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo. Do những vi phạm tự do tôn giáo thường xuyên và thô bạo, Việt Nam đã bị Chính Phủ Hoa Kỳ liệt vào danh sách các quốc gia "cần đặc biệt quan tâm" về vấn đề tự do tôn giáo.
      2. Vi phạm Quyền Tự Do Dân Chủ.
      Về mặt chính trị, Đảng Cộng Sản hứa hẹn thiết lập một chế độ dân chủ gấp triệu lần chế độ dân chủ Tây Phương. Đây chỉ là một khẩu hiệu tuyên truyền. Chúng ta không so sánh Việt Nam với các nước Tây Phương, và cũng không so sánh Việt Nam với các nước dân chủ Á Châu như Nhật Bản, Ấn Độ, Đại Hàn, Đài Loan, Mã Lai, Tân Gia Ba, Thái Lan, Phi Luật Tân v.v... Chúng ta hãy lấy nước láng giềng Căm Bốt làm đối tượng so sánh mức độ dân chủ của hai nước trong bán đảo Đông Dương.
      Bốn thước đo dân chủ là: tự do tôn giáo, tự do báo chí, tự do lập hội và tự do tuyển cử.
      Chấm 100 điểm cho 4 quyền tự do, mỗi quyền được tối đa 25 điểm.
      1) Tự do tôn giáo
      - Căm Bốt: Tương đối không có đàn áp tôn giáo: 15 điểm.
      - Việt Nam: Đàn áp tôn giáo theo chính sách và tiêu diệt tôn giáo theo chủ thuyết: 0 điểm.
      2) Tự do báo chí
      - Căm Bốt: Có các báo đối lập và độc lập: 10 điểm.
      - Việt Nam: Công dân không được quyền ra báo: 0 điểm.
      3) Tự do lập đảng
      - Căm Bốt: Có ít nhất 3 đảng, Đảng Nhân Dân của Hun Sen, Đảng Bảo Hoàng của Ranariddh và Đảng Quốc Gia của Rainsy: 15 điểm.
      - Việt Nam: Đảng Cộng Sản là độc đảng: 0 điểm.
      4) Tự do tuyển cử
      - Căm Bốt: Trong những cuộc bầu cử mới đây, Đảng Nhân Dân chỉ được chừng 40% số phiếu, ngang với số phiếu đối lập của Đảng Bảo Hoàng và Đảng Quốc Gia: 10 điểm.
      - Việt Nam: Với chính sách "đảng cử dân bầu", người dân chỉ có quyền bầu lên các đại biểu do Đảng Cộng Sản cử ra: 0 điểm.
      Tổng cộng: Căm Bốt: 50 điểm; Việt Nam: 0 điểm.
      Đây là mối nhục cho Việt Nam. Từ ngày lập quốc chưa bao giờ uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế lại sa sút như vậy!
      Việt Nam hiện nay đứng chót trong bậc thang tự do dân chủ của 200 quốc gia trên thế giới, kém cả Cao Miên.
      Trong bậc thang kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay là một trong những nước nghèo đói nhất trên thế giới, kém cả Congo và ngang Bắc Hàn.
      Lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam chỉ bằng 1/45 tại Tân Gia Ba, 1/26 tại Đài Loan, 1/25 tại Đại Hàn, 1/8 tại Mã Lai, 1/5 tại Thái Lan, 1/2 tại Phi Luật Tân, 3/5 tại Nam Dương, và chỉ bằng 3/4 tại Congo. Theo Encyclo-pedia Britannica Book of The Year 2005, lợi tức bình quân mỗi đầu người tại Việt Nam năm 2003 là 480 mỹ kim so với 640 mỹ kim tại Congo và 457 mỹ kim tại Bắc Hàn.
      Ngày nay lịch sử đã chứng minh rằng Đảng Cộng Sản không có tư cách và khả năng lãnh đạo quốc gia.
      Và chế độ Độc Tài Đảng Trị phải được giải thể để người dân hành sử Quyền Dân Tộc Tự Quyết, thiết lập chế độ Dân Chủ Pháp Trị, trong đó các nhân quyền và dân quyền được tôn trọng, kinh tế quốc gia được phát triển và công bằng xã hội được thực thi.
      (22-05-2006)