Bán Nguyệt San - Số 5 * 15 tháng Sáu, 2006

 
 

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình".
      (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982.
     

Trong số này:

TỰ DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
     IN VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM


   
Địa chỉ liên lạc:
   binhan2005@gmail.com
   truongsonvn81@gmail.com
     
   Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
     
   hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
  
   Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
     


     


     Từ mấy tháng nay tin tức và những bài bình luận liên quan đến đình công tại Việt Nam xuất hiện đều đều trên mặt báo và trên các diễn đàn điện tử. Người ta được biết, hồi tháng giêng 2006, trên cả nước đã xẩy ra hơn 60 vụ đình công phần lớn diễn ra ở Saigon, Bình Dương và Đồng Nai, với sự tham dự của hơn 100.000 công nhân. Những người đình công đòi tăng lương và cải thiện điều kiện lao động. Họ cũng phản đối sự vi phạm luật pháp của các chủ xí nghiệp và quyết liệt yêu cầu bãi bỏ hệ thống Công Đoàn của Cộng Sản Việt Nam (CSVN).
      Đến nay, 4 tháng đã trôi qua, nhưng vấn đề đình công vẫn chưa được giải quyết. Báo Lao Động ra ngày 5-4-2006 loan tin trong tháng 3 vẫn còn 27 vụ đình công. Trong số này, 22 vụ xảy ra ở các doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài và 5 vụ ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước. Song song với các vụ đình công, hiện tượng bãi thị cũng bắt đầu xuất hiện. Báo Tiền Phong ra ngày 4-4-2006 đưa tin 60 hộ buôn bán ỏ Trung Tâm Thương Mại Pleiku và 580 hộ buôn bán ỏ chợ Vôi (Bắc Giang) đã đồng loạt nghỉ chợ để phản đối cạnh tranh bất chính và mức thuế quá cao.
      Trong các xã hội tự do dân chủ, đình công bãi thị là những hiện tượng quen thuộc, thường được giải quyết nhanh chóng giữa các nghiệp đoàn chủ và thợ. Ngược lại, dưới các chế dộ cộng sản toàn trị, hai hiện tương này, một khi đã xảy ra thì phương cách giải quyết chỉ có thể, một là, chính quyền độc tài sẽ dùng quân đội và công an thẳng tay đàn áp dẹp bỏ đình công và hai là, nhân dân sẽ anh dũng dùng vũ khí đình công và bãi thị một cách không khoan nhượng để lọai bỏ chế độ thối nát và bất lực và thay vào đó bằng một chính thể dân chủ tiến bộ.
      Những đoạn viết tiếp theo hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc giải thích tầm quan trọng của hiện tượng “đình công bãi thị” dưới các chế độ độc tài Stalinít như Trung Quốc và Việt Nam và cho việc xác định vị trí cuả giai đoạn đình công trong tiến trình tự hủy cuả chế độ độc tài.
      I. CHẾ ĐỘ CS : HẬU QỦA CỦA MỘT THÂM Ý GIAN MANH CỦA MARX.
      Cuộc chiến chống Cộng Sản trong hơn nửa thế kỷ qua, trong thực chất, là một cuộc chiến quyết liệt nhất trong lịch sử loài người để bảo vệ quyền tư hữu và thủ phạm gây ra cuộc chiến tàn khốc này không ai khác hơn là Karl Marx. Marx đã làm cho nhân loại giết nhau vì một định nghĩa thâm độc và gian xảo của ông ta liên quan đến quyền này.
      Theo định nghĩa cổ điển, tư hữu là quyền của một người trên một tài vật. Quyền này được luật pháp thừa nhận và cho phép người sở hữu chủ độc quyền khai thác, đọan mại hay sang nhượng. Nói khác, tư hữu là quyền tuyệt đối trên một tài vật được luật pháp công nhận và bảo vệ.
      Định nghĩa tư hữu như là quyền của con người trên một tài vật đã bị Marx bóp méo với hậu ý thâm độc và gian sảo. Marx cho rằng tư hữu không phải là mối quan hệ giữa người và tài vật mà là mối quan hệ giữa những con người với nhau trên tình trạng chiếm hữu một tài vật. Sự phức tạp hoá định nghiã này chủ yếu nhằm chuẩn bị cho việc ăn cướp tài sản của tư nhân để tập trung vào tay nhà nước vì trong mối quan hệ giữa tư nhân và nhà nước trên một tài vật thì đương nhiên tư nhân phải nắm phần thua thiệt. Chính vì cái định nghĩa bịp bợm này mà các xã hội cộng sản đã có thể thành hình và kinh tế hoạch định đã được đem ra áp dụng như một thử nghiệm phiêu lưu và tai hại.
      Trong một thòi gian khá lâu chủ nghĩa cộng sản đã làm cho người ta tưởng lầm rằng kinh tế hoạch định có thể tốt hơn cho đất nước về phương diện phát triển nhưng thực tế đã chứng minh ngược lai. Ngay từ buổi đầu của trào lưu Mác-Xít hóa kinh tế, người ta đã thấy rằng nhà nước cộng sản hoàn toàn không có khả năng thỏa mãn đòi hỏi đa dạng của thi hiếu quần chúng về nhu cầu hàng hóa tiêu dùng. Khả năng phát triển của kinh tế hoạch định (KTHĐ) vào lúc đó, thật ra chỉ là một trò gian xảo. Giờ đây, sự gian xảo đó đã được phơi bày vì người ta phát hiện là, trong thời gian trước, các thống kê của Liên Sô và của các quốc gia cộng sản chư hầu đã được khuếch đại một cách qúa đáng với dụng ý che giấu sự thất bại của KTHĐ, ngay từ buổi đầu đem áp dụng.
      Muốn thực hiện công bằng xã hội, vấn đề không phải là gom tất cả tài sản của nhân dân vào tay nhà nước để nhà nước phân phát lại một cách đồng đều cho mọi người. Phương thức này sau hơn nửa thế kỷ áp dụng đã đưa đến hậu quả là trong các quốc gia cộng sản, một thiểu số rất nhỏ đã trở thành giàu có trong khi gần như tòan bộ nhân dân tiếp tục đói khổ lầm than. Trong các xã hội dân chủ người ta dùng thuế để tái phân phối lợi tức và phương thức này đã tỏ ra uyển chuyển và hữu hiệu hơn nhiều.
      Khi chủ nghĩa cộng sản tập trung mọi hình thức sở hữu vào trong tay nhà nước thì cái chế độ nó dựng lên sẽ bắt buộc phải là một thể chế toàn tài và việc bảo vệ những người nó rêu rao là muốn bảo vệ chỉ là trò lừa đảo. Tại sao ? Tại vì tư hữu là phương cách hay nhất để chia sẻ quyền hành với nhà nước. Tư hữu giúp chúng ta tự do hành động trong không gian độc lập của chúng ta mà không có sự can thiệp của người ngoài. Nói về phương diện cá nhân, tư hữu và tự do giống như một thực thể bất khả phân. Còn nói về phương diện đất nước thì đất nước sẽ không có tương lai phát triển khi tư hữu bị bóp chết. Lý do là vì khi loại bỏ quyền tư hữu, đồng thời người ta cũng lọai bỏ luôn cả những động cơ cần thiết để làm cho quốc gia tiến bộ và giàu mạnh. Nhận xét qua lăng kính tư hữu ta thấy sự phát triển vượt bực của các cường quốc Tây Phương so với khối cộng sản quốc tế là một bằng chứng không thể chối cãi. Các xã hội dân chủ Tây Phương, từ lâu đời, đã được xây dựng trên căn bản tư hữu.
      Đối với dân tộc Việt Nam ngày nay, sau hơn nửa thế kỷ sống dưới bàn tay khắc nghiệt của chế độ cộng sản, mọi người đều thấy rằng nếu không có tư hữu thì mọi thứ quyền khác đều trở thành vô nghĩa. Tư hữu là phương tiện căn bản để con người giữ được tự do cho chính mình và tôn trọng tự do của người khác. Tư hữu là điều kiện tiên quyết để cuộc sống riêng tư của mỗi cá nhân có thể thực hiện. Cũng như nhân quyền, tư hữu là một đối lực không thể thiếu trong xã hội để kiểm soát và hạn chế sự lạm quyền của nhà nước.
      II- NHỮNG GIAI ĐỌAN PHÁT TRIỂN CỦA CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN
      Nhờ ánh sáng của cuộc Cách mạng Dân chủ năm 1989 tại Đông Âu, chúng ta đã có thể học hỏi về những giai đọan phát triển của một chế độ cộng sản. Sư hiểu biết này cần thiết để giúp chúng ta xác định được một cách tương đối chính xác thời điểm suy vong của chế độ mà chúng ta đang đấu tranh để giải thể
      Nhiều cuộc nghiên cứu gần đây cho biết những chế độ cộng sản rập theo khuôn mẫu của Liên Sô (như trường hợp của Việt Nam) thường có một đời sống phát triển qua 3 giai đọan.
      Giai đoạn I: Cướp chính quyền. Tất cả các nước cộng sản đều tạo lập chính quyền bằng bạo lực do các cuộc nổi dậy từ trong nước (Liên Sô, Trung Cộng, Việt Nam) hoặc do cách đặt để từ bên ngoài bằng áp lực quân sự như tại các nước Đông Âu sau Thế Chiến 2. Đặc tính của giai đoạn này là sự khủng bố để tiêu diệt mọi phần tử chống đối hoặc cản trở sự nghiệp “cách mạng” của họ. Người cộng sản trong giai đọan này coi khủng bố như công tác hàng đầu, thường xuyên phải thi hành để hâm nóng và giữ khí thế đấu tranh. Khủng bố do đó trở thành lẽ sống và bản chất của chế độ.
      Giai đoạn II : Động viên. Thực chất của giai đọan này là giai đoạn bóc lột nhân lực và tài lực của người dân để dùng vào các mục tiêu phát triển và củng cố chế độ. Động cơ thúc đẩy nhân dân làm việc là hình ảnh bịp bợm của “thiên đường cộng sản”. Hậu quả của sự bịp bợm này là sức dân càng ngày càng kiệt quệ trong khi bộ máy quan liêu và bộ máy đàn áp của chính quyền càng ngày càng phình lớn. Trong giai đoạn này, người cộng sản tạo chính nghiã bằng sự thần thánh hóa lãnh tụ, cai trị bằng bạo lực thay vì bằng luật pháp và ổn định tình hình chính trị bằng sự bưng bít không cho xã hội liên lạc với thế giới bên ngoài.
      Giai đọan III : Hậu động viên. Trong giai đọan này các mục tiêu để khủng bố hết dần, kinh tế tụt hậu vì không có khả năng phát triển, lòng dân càng ngày càng chán nản và mất tin tưởng. Tất cả những thực trạng này bắt buộc chính quyền phải đi vào con đường “đổi mới” và áp dụng kinh tế thị trường để tránh nguy cơ sụp đổ. Chế độ toàn trị xuống cấp thành chế độ độc tài và giai đọan kết thúc sẽ xảy ra dưới một trong hai hình thức sau đây : 1/ rút lui và trả lại quyền cho nhân dân như tại các quốc gia Đông Âu năm 1989; 2/ ngoan cố bám víu lấy chính quyền để vội vàng vơ vét trong cảnh chợ chiều trong khi chờ đợi nhân dân vùng lên lật đổ (như trường hợp của Việt Nam hiện nay).
      Như ta đã thấy, đảng CSVN cũng bám víu lấy chính quyền bằng “đổi mới” và “kinh tế thị trường”. Với sách lược, này họ hy vọng có thể sống lâu, nhưng từ hai thập kỷ nay, nhìn vào xã hội VN người ta thấy uy quyền của họ đang ở trên một tiến trình tự hủy gia tốc. Sau khi Chiến Tranh Lạnh chấm dứt, cuộc khủng hoảng chính nghĩa của họ đã khiến quần chúng xa rời những người lãnh đạo và không còn thiết tha gì với các vấn đề chính trị. Giữa Đảng và nhân dân không còn mối liên hệ keo sơn như trước nữa. Đảng đã hiện nguyên hình thành giai cấp bóc lột, còn nhân dân, ngậm đắng nuốt cay vì bị đánh lừa, chỉ chờ cơ hội là vùng lên hỏi tội.
      Ý thức được thực trạng này, Đảng như một con bệnh đang ở trong thời kỳ mê sảng vì nó sợ cái bóng của chính nó. Cái bóng đó là “dân chủ đa nguyên” và “diễn biến hoà bình”. Trên thực tế, chế độ chính trị tại VN ngày nay chưa phải là dân chủ nhưng nó đã mang tính cách đa nguyên. Đa nguyên vì Bộ Chính Trị đã phân hóa thành 2 phe đối nghịch (cải cách và bảo thủ). Đa nguyên vì giờ đây các địa phương không còn tuân lệnh trung ương. VN tuy chưa có một xã hội dân sự theo đúng nghĩa nhưng khi nhận xét rằng toàn dân đã tách rời khỏi Đảng thì như thế có thể nói là một xã hội dân sự đã thành hình và chỉ còn cần thời gian để hoàn chỉnh.
      Tại VN ngày nay, người ta đã phát hiện một loại khế ước xã hội mặc nhiên giữa chính quyền cộng sản và nhân dân. Khế ưốc đó được hiểu như sau : “Chúng tôi cam kết làm việc nghiêm túc nhưng quý vị cũng phải cam kết trả lương cho chúng tôi đúng kỳ hạn”. Nói khác, nếu nền kinh tế gặp khó khăn thì nhân dân sẽ nổi lọan để đòi lại quyền làm chủ đất nước. Tác giả A. Heller (trong cuốn Dictatorship Over Needs, trang 137-155) cho rằng : “Muốn cho nhân dân có thái độ thách thức chính quyền và làm cách mạng thì trước hết họ phải có sẵn trong đầu một mô hình để thay thế”.
      Mô hình đó, nhân dân Việt Nam đã có từ lâu rồi. Đúng ra là từ ngày “Đổi Mới”. Sau bao nhiêu năm bị lừa gạt vì qúa tin vào “thiên đường ảo XHCN”, giờ đây nhân dân ta đã được nhìn thấy và sờ thấy một thiên đường có thật. Đó là thiên đường “tự do dân chủ”, ước mơ của thế hệ hôm nay. Cho nên họ sẵn sàng mang sinh mạng ra đấu tranh để biến ước mơ đó thành sự thật. Quyết định đình công là sách lược hữu hiệu nhất và nhanh nhất để vươn tới mục tiêu tối hậu.
      Bài học Đông Âu đã dạy rằng : trong cuộc đấu tranh giữa quần chúng và chính quyền, quần chúng nắm chắc phần thắng cho dù chính quyền có được bảo vệ bằng công an và quân đội. Quần chúng đây là công nhân và nông dân với sự yểm trợ của các thành phần trí thức, sinh viên và giáo sư đại học, các lãnh tụ tôn giáo và các văn nghệ sĩ tiến bộ…
      Đình công là hồi chuông báo tử của CSVN, là màn đầu của cuộc đấu tranh giữa quần chúng và chính quyền, xảy ra vào giai đọan chót trong tiến trình tự hủy của chế dộ thối nát và bất lực. Nó xảy ra vì cái khế ước mặc nhiên về lương bổng (như đề cập ở trên) đã không được chính quyền tôn trọng, hay nói cho đúng hơn là không còn khả năng tôn trọng. Tiếp theo những ngày tháng sôi động của cuộc cách mạng dân chủ tại Đông Âu năm 1989, lịch sử lại đang tái diễn tại VN, sau gần 20 năm lắng dịu.
      III- BÀI HỌC BA LAN.
      Thế Chiến 2 chấm dứt, Ba Lan và một số quốc gia Đông Âu khác lọt vào vùng ảnh hưởng của Liên Sô. Tức thì, bằng những cuộc bầu cử tiền chế và gian lận, chế độ cộng sản được thiết lập trên toàn vùng. Một số nước thiếu may mắm đã trở thành chư hầu của điện Cẩm Linh.
      Sau khi Staline chết (1953), phong trào bài Staline ở Liên Sô do Khrushev phát động đã khuyến khích các dân tộc Đông Âu lấy lại dũng cảm để nói lên ý muốn của mình. Cuộc biểu tình đầu tiên của người Ba Lan, chống khan hiếm thực phẩm và kinh tế khó khăn, đã trở thành một cuộc bạo loạn bị đàn áp dã man. Biến cố xảy ra tại thành phố Poznan. Mặc dầu bị đàn áp, biểu tình vẫn tràn lan sang nhiều thành phố khác và trở thành một phong trào đòi hỏi cải cách chính trị. Kể từ thời gian này, biểu tình trở thành một vũ khí lợi hại của quần chúng chống chính quyền. Áp lực liên tục của biểu tình đã làm cho một số lãnh tụ độc tài của ché dộ như Boleslaw Bierut, Edward Ochab, mất việc và một số cải cách được tiến hành.
      Năm 1968, một cuộc biểu tình khổng lồ của sinh viên và giáo sư, lên án sự thâm nhập đại học của các gián điệp đến từ Moscow, cũng bị đàn áp rất nặng nề nhưng không làm sởn chí các nhà đấu tranh giành quyền sống cho dân tộc. Đến năm 1970 thì phong trào phản đối được chuyển sang tay công nhân. Biểu tình xuất hiện lần này ở hai tỉnh Gdansk và Szczecin, vào mùa Giáng Sinh, để chống lai sự tăng giá sinh hoạt. Dưới áp lực của biểu tình, lãnh tụ độc tài khét tiếng Vladyslaw Gomulka mất chức và được Edward Gierek thay thế.
      Gierek bãi bỏ sự tăng giá sinh hoạt nhưng đến năm 1976 giá sinh hoạt lại lên và công nhân lại đình công và biểu tình dồn dập. Sự đàn áp biểu tình lần này dẫn đến việc hợp nhất của hai lực lượng công nhân và trí thức thành một liên minh lấy tên là Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân (KOR).
      Năm 1978, một nhóm nhỏ công nhân của các xưởng đóng tầu tại ven biển thành lập, ngoài luật pháp, Ủy Ban Công Đoàn Tụ Do của vùng biển Baltic. Thành viên sang lập của ủy ban này là người thợ điện nổi tiếng Lech Walesa. Vào tháng 10 của năm 1978, hồng y Karol Wojtyla của Krakow trở thành giáo hoàng John Paul II của toà thánh La Mã. Năm 1979, giáo hoàng về thăm quê hương và đã truyền cho hàng triệu tín đồ Ba Lan hy vọng và sức mạnh đấu tranh. Kể từ thời điểm này, phe đối lập Ba Lan có sức mạnh tiềm tàng và cơ sở đấu tranh rộng khắp.
      Năm 1800, kinh tế Ba Lan lại xuống dốc và giá sinh hoạt lại lên cao. Đình công lại nổ ra trên toàn quốc, mạnh nhất tại vùng biển Baltic. Giữa tháng 8-1980, 16.000 công nhân của xưởng đóng tầu Lenin tại Gdansk ngưng làm việc để đấu tranh. Lech Walesa lãnh đạo cuộc đấu tranh này và tiếp theo là lãnh đạo cuộc đình công liên xưởng (KKS) của hơn 200 xí nghiệp trên toàn quốc. Chính quyền cộng sản lung lay, đề nghị điều đình.
      Khi phái đoàn Bộ Chính Trị Varsaw xuống Gdansk điều đình thì phe đình công đưa ra 21 điều kiện, trong đó điều kiện đầu tiên là quyền được thành lập một công đoàn tự do. Cuộc thương thảo tại xưởng đóng tầu Lenin đưa tới kết qủa là chính quyền cộng sản Ba Lan chấp nhận trên nguyên tắc mọi điều kiện của phe đối lập. Công đoàn tự do đầu tiên được thành lập, mang tên lịch sử là Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarity).
      Tháng 9-1981, Solidarity họp bầu đại diện. Điện Cẩm Linh (Kremlin) phản ứng, cho đó là một thách thức hỗn xược. Nhiều cuộc hành quân thao diễn được tổ chức tại vùng biên giới với tính cách đe dọa. Chủ tịch đảng cộng sản Ba Lan Stanislaw Kania được thay thế bởi bộ trưởng quốc phòng, tướng Wojciech Jaruzelski. Ngày 13 tháng 12 năm 1981, Jaruzelski ban hành lệnh giới nghiêm và giải tán Solidarity. Solidarity rút lui vào bóng tối và tiếp tục hoạt động chống đối trên mọi lãnh vực sinh hoạt của xã hội.
      Vào thời điểm này, 12/16 triệu công nhân Ba Lan đã gia nhập Công Đoàn Đoàn Kết và nhiều cuộc thăm dò cho biết là dân chúng Ba Lan cũng đã mất hết niềm tin vào chủ nghĩa xã hội. Tại Liên Sô, Brezh-new chết năm 1982, Andropov lên thay, chết năm 1984. Chernenko nối ngôi cũng chẳng được bao lâu (chết năm 1985). Mikhail Gorbachev kế vị, áp dụng Perestroika và Glanost. Chủ thuyết thực dân Berzhnev chấm dứt, mở đường cho cách mạng dân chủ Đông Âu thắng lợi.
      Kinh tế Ba Lan tiếp tục xuống dốc. Năm 1988, dưới sự chỉ đạo của Solidarity bí mật, hai vụ đình công lại nổ ra. Vụ mùa Xuân chủ yếu là để đấu tranh kinh tế, nhưng vụ tháng 8, đòi hỏi thay đổi chính trị và hợp pháp hóa trở lại Công Đoàn Đoàn Kết. Ngày 31-8-1988 tổng trưởng nội vụ Ba Lan Czeslaw Kiszczack đề nghị thảo luận vấn đề hợp pháp hóa Công Đoàn Đoàn Kết nếu Lech Walesa có thể thuyết phục công nhân làm việc trở lại. Đề nghị này được Walesa chấp thuận và cuộc thương thảo được tiến hành. Tháng giêng năm 1989 chính quyền cộng sản nhượng bộ, ra nghị quyết chấp nhận một nền chính trị đa nguyên có đối lập và hợp pháp hóa Công Đoàn Đoàn Kết. Tiếp theo, nhiều hội nhị bàn tròn được tổ chức để giải quyết những vấn đề còn lại.
      Kết qủa của các phiên họp bàn tròn là một cuộc bầu cử quốc hội (Sejm) đã được tổ chức vào tháng 6 năm 1989: phe đối lập và Solidarity được phép tranh cử 35/100 số ghế trong Sejm. Bầu cử Thượng Viện cũng được tiến hành và hoàn toàn có tính cách tự do. Mặc dầu không có đủ thời gian chuẩn bị nhưng phe dân chủ Ba Lan đã thắng lớn vì lòng dân đã ngả theo. Trong cuộc bầu cử thủ tướng, Jaruzelski đã không hội đủ số phiếu tối thiểu để đắc cử nên luật sư Tadensz Mazowiecki, người của Solidarity, đã đứng ra thành lập chính phủ liên hiệp. Đây là chính phủ không cộng sản đầu tiên trong thế giới cộng sản. Cách mạng dân chủ Ba Lan thành công vĩ đại.
      * * *
      Từ cuộc đấu tranh thắng lợi của Solidarity Ba Lan, chúng ta có thể rút tỉa ra những nhận định nào có ích cho nỗ lực chuyển thể chính trị hiện nay tại nước nhà. Nhận định thứ nhất phải nhập tâm là tất cả các chế độ cộng sản đều tàn lụi vì không có khả năng phát triển như đã trình bầy trong phần đầu của bài viết. Và một đất nước không phát triển phải được coi như một họa diệt vong tiệm tiến đối với dân tộc.
      Chính quyền có thể tàn lụi vì bất lực nhưng dân tộc nhất thiết phải vươn lên vì bản năng sinh tồn của nòi giống. Nhận định sơ khởi này cho ta niềm tin tưởng tuyệt đối để kiên trì đẩy mạnh công cuộc đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng.
      Nhận định thứ hai là hiện nay, CSVN đang bước vào giai đoạn suy tàn và các cuộc đình công đã xảy ra đúng lúc. Đình công của công nhân phối hơp với bải thị của nông dân là chiến pháp cách mạng dân chủ hữu hiệu cần áp dụng và khai triển để đi tới thành công vì trong cuộc chiến đấu với một chính quyền độc tài được bảo vệ bởi công an và quân đội thì không có một lực lượng nào ngoài lực lượng quần chúng (phải hiểu như toàn khối quần chúng bị đàn áp và bóc lột) có thể đương đầu và đi đến thắng lợi. Tấm gương của các nước Đông Âu là một bảo đảm tâm lý cho chúng ta về thắng lợi tối hậu này.
      Nhận định thứ ba là đình công và biểu tình là hai vũ khí chuyên biệt của đám đông quần chúng, Hai vũ khí này cần được sử dụng một cách cân nhắc trong những mục tiêu chiến thuật và chiến lược tinh vi để tạo áp lực thường xuyên lên chính quyền độc tài đang suy phế và đẩy mạnh sự tiêu vong của chế độ.
      Ngoài ra, công nhân và nông dân cũng cần tạo lập liên minh với các thành phần trí thức, lãnh tụ tôn giáo, văn nghệ sĩ, sinh viên và học sinh tiến bộ để mở rộng cơ sở đấu tranh và đông viên quần chúng tham gia cách mạng. Phải đòi cho bằng được quyền thành lập một công đoàn tự do để làm bàn đạp phát huy sức mạnh và chống xâm nhập, phá hoại.
      Các nhà dân chủ, các lãnh tụ tôn giáo và các nhà trí thức nên phối hợp hành động ngay với phong trào đình công bằng một Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân sau khi Bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006 (ra đời ngày 8-4-2006) đã được hải ngoại tán đồng và quốc tế quan tâm theo dõi. Ủy Ban này sẽ có một văn phòng đặt tại hại ngoại để vừa là tai mắt vừa là hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh. Còn nhớ cách đây 3 thập kỷ, 59 nhà trí thức dân chủ Ba Lan, ngày 5-12-1975, cũng đã gửi cho quốc hội Ba Lan một bản tuyên ngôn đòi hỏi tự do ngôn luận và tự do tư tưởng. Bản tuyên ngôn này thúc giục sự ra đời của Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân (KOR) vào ngày 9-5-1976 và chính KOR đã đưa cách mạng dân chủ Ba Lan đến thành công.
      Lúc này hơn lúc nào hết, hải ngoài phải dồn mọi nỗ lực để tiếp tay cho sự nghiệp đấu tranh lịch sử mà nhân dân đang theo đuổi. Cụ thể là phải cho ra đời càng sớm càng tốt một Văn Phòng của Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân với nhiệm vụ tham mưu, cố vấn, thông tin, yểm trợ tài chính và vận động quốc tế. Như vậy sách lược đấu tranh mới có tầm vóc để đọ sức với bạo quyền. Đây là cơ hội ngàn năm một thuở để nước Việt Nam Dân Chủ Hải Ngoại, nếu biết nhìn xa trông rộng, sẽ góp phần giải phóng quê hương.