|
"Mọi người có quyền tự do
ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng
truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật,
hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác
theo sự lựa chọn của mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
TỰ
DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
IN
VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM
Địa chỉ liên lạc:
binhan2005@gmail.com
truongsonvn81@gmail.com
Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
hoặc
http://www.tdngonluan.com
www.tudodanchuvietnam.net
Trong trang mạng thứ 2 và 3 trên đây, Quý vị có thể
tìm thấy
nhiều tài liệu đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
|
17, 118 rồi 220... Những
con số tưởng rằng vô nghĩa, nhưng nó đã và đang là biểu tượng
cho sự lớn mạnh của phong trào dân chủ tại Việt Nam.
Cách đây 4 năm, vào tháng 7-2002, dư luận đặc biệt chú ý đến một
bản kiến nghị do 17 người ký tên gởi giới lãnh đạo của đảng và
nhà nước cộng sản Việt Nam (CS VN) để đặt một số vấn đề liên quan
đến tình trạng đàn áp tự do và nhân quyền. Nếu so với dân số Việt
Nam khoảng 80 triệu người, thì con số 17 quả là quá nhỏ. Nhưng
sở dĩ dư luận lúc đó chú ý là vì đây là lần đầu tiên có một số
người dám ký tên tập thể để phản đối chính sách đàn áp tự do và
nhân quyền của đảng CSVN.
Trong một xã hội mà sự kiểm soát của chế độ độc tài còn rất chặt
chẽ và tâm lý sợ hãi còn đè nặng lên đại khối quần chúng, mọi
hành động minh danh liên kết tập thể đều là những hành động vô
cùng can đảm, vì chắc chắn nó sẽ dẫn tới những phản ứng đàn áp
khốc liệt của đảng CSVN. Và sự đàn áp đã xảy ra. Một số người
trong danh sách ký tên đã bị sách nhiễu, cô lập và cầm tù.
Nhưng 4 năm sau, con số 17 trở thành 118, 220 và chắc chắn sẽ
còn gia tăng trong những ngày tháng sắp tới. Cách đây 4 năm, nội
dung của bản văn là nằm trong tinh thần "kiến nghị"
và đối tượng là đảng và nhà nước CSVN. Ngày nay, nội dung của
bản văn mà hơn 220 người đã ký tên là một bản tuyên ngôn nhằm
minh định công khai quyền đấu tranh cho một thể chế tự do dân
chủ và đối tượng là toàn thể dân tộc Việt Nam cả trong lẫn ngoài
nước. Sự khác biệt về số lượng lẫn nội dung cho thấy phong trào
đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam đã làm một bước nhảy vọt đáng
kể, kể từ khi đảng CSVN áp đặt ách thống trị trên toàn cõi Việt
Nam cách đây 31 năm.
Sau năm 1975, nguyện vọng tự do dân chủ đã thúc đẩy một số người
đứng lên đấu tranh. Nhưng các hình thức đấu tranh vào lúc này
hoàn toàn nằm trong bí mật và đã bị đảng CSVN tiêu diệt một cách
tàn bạo. Đến đầu thập niên 90, phong trào dân chủ tại Việt Nam
có thể nói còn rất yếu, với một vài nhân vật được quốc tế biết
đến như giáo sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy, Bác Sĩ
Nguyễn Đan Quế, Hòa Thượng Thích Huyền Quang... Vào thời điểm
này, khi cuộc cách mạng Đông Âu xảy ra, một số người dân chủ đã
lợi dụng cơ hội để đứng lên công khai đấu tranh, nhưng họ cũng
bị đàn áp một cách rất khốc liệt. Hầu hết đều bị lãnh những án
tù nặng nề.
Nhưng theo thời gian, đảng CSVN mỗi lúc một bị động và phong trào
dân chủ Việt Nam mỗi lúc một thắng thế. Nếu vào đầu năm 1990,
Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế đã bị bắt và bị cầm tù nhiều năm vì "Lời
Kêu Gọi của Cao Trào Nhân Bản", thì ngày nay, với những bài
viết mới của ông như "Lộ trình 9 điểm dân chủ hóa Việt Nam",
"Giải quyết chính tặc", "Làm gì để có thay đổi
tại Việt Nam?"... lẽ ra Hà Nội phải tuyên án tử hình, vì
nội dung của các bài viết này đã biểu hiện sự chống đối mãnh liệt
và dứt khoát gấp bội, so với lời kêu gọi vào đầu năm 1990. Các
nhà dân chủ khác như LM Nguyễn Văn Lý, ông Hoàng Minh Chính, ông
Nguyễn Khắc Toàn... cũng có những biểu kiện chống đối mãnh liệt
và dứt khoát tương tự, nhưng Hà Nội đã không còn dám phản ứng
một cách thô bạo như cách đây 10 năm, vì họ đang ngày một bị động.
Hà Nội ngày một bị động là vì số người đấu tranh dân chủ công
khai ngày một đông hơn và ngày một dứt khoát hơn. Sự tăng trưởng
theo thời gian của số người đấu tranh công khai là một yếu tố
vô cùng quan trọng khiến cho chế độ CSVN phải e dè khi lấy quyết
định đàn áp. Sự tăng trưởng này không chỉ về số lượng, mà còn
về thành phần. Nhìn vào danh sách những người đã ký tên vào Tuyên
Ngôn Dân Chủ 2006, chúng ta thấy có đủ mọi thành phần xã hội,
từ những người đã từng phục vụ trong hàng ngũ của đảng CSVN, cho
đến công nhân, nông dân bình thường ở nhiều miền của đất nước.
Đây là một yếu tố quan trọng khiến cho chế độ độc tài phải thận
trọng hơn khi tìm biện pháp trấn áp, vì ngày nay, phong trào dân
chủ đã kết được những mắc xích quan trọng vào xã hội Việt Nam.
Mọi sự đàn áp thô bạo đều có thể đưa đến hậu quả làm bùng lên
sự chống đối dây chuyền và lan ra mọi tầng lớp xã hội.
Hà Nội ngày một bị động vì trong thời đại này, họ đã không còn
trong tư thế muốn làm gì thì làm trên đất nước Việt Nam. Với ảnh
hưởng của quốc tế trên nhiều lãnh vực, với sự bùng nổ về thông
tin, với sự liên hệ ngày một chặt chẽ giữa người Việt Nam ở trong
và ngoài nước... đảng CSVN không còn có thể áp dụng những biện
pháp đàn áp thô bạo, bất chấp phản ứng của quốc tế, của dư luận
như trước đây. Mặt khác, nếu trước đây những bài viết, những sự
kiện, những lời kêu cứu ở trong nước phải mất vài tuần, có khi
vài tháng mới được dư luận bên ngoài biết tới và quan tâm. Ngày
nay, nhất cử nhất động của Hà Nội, của những người dân chủ trong
nước đều được cả thế giới biết đến chỉ trong vòng vài phút, vài
giờ. Rõ ràng, đảng CSVN đã mất khả năng độc quyền thông tin về
sự kiện Việt Nam và cũng không còn khả năng bưng bít. Họ đã không
còn có thể muốn làm gì thì làm trên đất nước Việt Nam.
Hà Nội ngày một bị động vì phong trào đấu tranh trong nước đang
trở thành đa diện, chế độ độc tài đang bị tấn công trên mọi lãnh
vực. Cách đây hơn 10 năm, hầu hết những đòi hỏi của những người
dân chủ đều tập trung vào việc tố cáo chính sách đàn áp nhân quyền
hay tôn giáo. Ngày nay, lãnh vực tranh đấu được mở rộng ra rất
nhiều. Có người tấn công vào nền tảng của ý thức hệ Mác-Lê và
đã giúp cho quần chúng, đặc biệt là giới trẻ nhìn ra những sai
lầm to lớn và những ảo tưởng của ý thức hệ này. Có người phê phán,
vạch trần những sự sai trái trong chiến lược phát triển và chính
sách cai trị của đảng CSVN. Có người tấn công vào cơ chế tham
nhũng, hủ hóa của chế độ... Với những lãnh vực đấu tranh ngày
một đa diện, phong trào dân chủ công khai đang tiến gần lại với
quảng đại quần chúng và các cuộc đình công, khiếu kiện là những
kết quả của khả năng tác động ngày một hữu hiệu hơn của phong
trào dân chủ.
Sự bị động của chế độ độc tài. sự lớn mạnh của phong trào dân
chủ và những nỗ lực đầy sáng tạo của những người đấu tranh cả
trong lẫn ngoài nước đã và đang mở ra một triển vọng rất sáng
sủa về con đường tranh đấu trước mặt. Tuy nhiên, những biện pháp
đối phó của đảng CSVN và một số khó khăn mà phong trào dân chủ
đang gặp phải là những thách đố cần phải vượt qua, để đưa cuộc
tranh đấu đến thành công.
Điều mà người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước phải cảnh giác
là những thủ đoạn của đảng CSVN nhằm chia rẽ, bôi bẩn những người
tranh đấu cho dân chủ. Một trong những thủ đoạn mà chế độ độc
tài thường áp dụng là tìm cách kích lên những khác biệt giữa các
tổ chức, giữa những người đấu tranh để tạo nghi kỵ, phân hóa.
Nếu tất cả chúng ta đều xem sự khác biệt là điều bình thường và
tôn trọng sự khác biệt nếu có, thì thủ đoạn tạo nghi kỵ, phân
hóa của Hà Nội sẽ mất tác dụng. Trên tinh thần đó, chúng ta phải
xem những quan điểm, những phản ứng khác nhau của những người
dân chủ trong nước là điều bình thường, không vì đó là lên hay
xuống tinh thần. Tại môi trường hải ngoại, với điều kiện trao
đổi, liên lạc rất dễ dàng, nhiều tổ chức và những người đấu tranh
vẫn còn có những khác biệt chưa được giải quyết. Môi trường trong
nước còn khó khăn gấp bội. Do đó, nếu những người dân chủ trong
nước vẫn chưa có một cái nhìn chung về vấn đề đất nước, vẫn chưa
đồng ý cùng nhau đẩy mạnh một số nỗ lực, thì phải cảm thông với
hoàn cảnh của họ và tôn trọng những khác biệt giữa họ.
Điều mà người Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước cũng phải cảnh
giác là khi đảng CSVN đã giải quyết tạm ổn vấn đề nội bộ sau Đại
Hội X, chế độ độc tài có thể trở nên cứng rắn hơn và sẽ tung một
đợt bắt bớ, đàn áp quy mô, nhằm chận đứng sự lớn mạnh của phong
trào dân chủ. Do đó, điều mà người Việt tại hải ngoại cần làm
ngay từ bây giờ là vận động sự ủng hộ tối đa của dư luận và chính
giới quốc tế. Chính sự ủng hộ mạnh mẽ này sẽ góp phần bảo vệ những
người dân chủ trong nước và làm lùi bước sự đàn áp của đảng CSVN.
Tuy nhiên, nếu cuộc khủng bố này xảy ra, nó sẽ trở thành cuộc
đọ sức công khai giữa phong trào dân chủ với chế độ độc tài và
kết quả của cuộc đọ sức này tùy thuộc rất nhiều vào lòng can đảm
của những người dân chủ. Nếu Hà Nội phải đối diện với những thái
độ quyết liệt như lời tuyên bố của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh
Mục Phan Văn Lợi, ông Hoàng Minh Chính và của nhiều người Việt
Nam ở trong lẫn ngoài nước, đồng thời số người công khai ký tên
vào Tuyên Ngôn Dân Chủ mỗi lúc một đông, bất chấp sự bắt bớ, đàn
áp của nhà cầm quyền, thì cuộc khủng bố sẽ trở nên thất bại, phong
trào dân chủ sẽ càng lớn mạnh hơn nữa.
Điều chắc chắn là Hà Nội sẽ tiếp tục bị động, tiếp tục thất bại
trong những chính sách đàn áp, nếu phong trào dân chủ trong nước
chủ động thực hiện đúng điều được ghi trên tờ bán nguyệt san "Tự
Do Ngôn Luận". Đó là "Đừng sợ những gì cộng sản làm.
Hãy làm những gì cộng sản sợ". Thái độ không sợ những gì
cộng sản làm đã được biểu hiện qua hành động của hầu hết những
người từng bị cầm tù như HT Thích Quảng Độ, BS Nguyễn Đan Quế,
LM Nguyễn Văn Lý, anh Nguyễn Khắc Toàn... Mặc dù bất cứ lúc nào,
Hà Nội đều có thể bắt giam, cầm tù hay cô lập những người này,
nhưng vì họ đã vượt qua sự sợ hãi, nên mọi biện pháp đàn áp của
chế độ độc tài hầu như không còn kết quả.
Bà Aung San Suu Kyi, người được giải Nobel Hòa Bình năm 1991,
đã nói một câu bất hủ: "Không phải cái Quyền hủy diệt con
người, nhưng chính là cái Sợ". Đối với bà Aung San Suu Kyi,
cái sợ mới là điều nguy hiểm nhất, vì nó làm cho con người chấp
nhận tất cả những gì lẽ ra không thể chấp nhận. Nói cách khác,
vì sợ con người trở nên hèn. Ngược lại, khi không còn sợ, con
người trở nên can đảm. Có người nói rằng Đức Giáo Hoàng Jean-Paul
II là một tác nhân quan trọng của cuộc cách mạng dân chủ ở Đông
Âu. Điều đó không sai. Vì chính bản thân Ngài đã vượt thắng sự
sợ hãi đối với chế độ độc tài và lời kêu gọi "Đừng sợ hãi
nữa!" của Ngài trong chuyến trở về thăm Ba Lan vào năm 1983
đã thúc đẩy hàng vạn người Ba Lan đứng lên đấu tranh, đưa đến
sự sụp đổ của các chế độ cộng sản ở Đông Âu.
Tại Việt Nam, trong một khoảng thời gian dài, đảng CSVN đã thành
công trong việc gieo rắc con vi rút sợ hãi đối với quần chúng.
Ngày nay, nhiều người đã hoàn toàn miễn nhiễm và con vi rút sợ
hãi đang quay ngược lại tấn công chế độ. Đảng CSVN đang lo sợ
phong trào khiếu kiện có thể bung lên thành một phong trào dân
nghèo đứng lên đấu tranh đòi quyền sống. Họ lo sợ những cuộc đình
công liên tục trong thời gian qua đưa đến một phong trào đòi quyền
thành lập những công đoàn độc lập. Họ cũng lo sợ tuột tay kiểm
soát hệ thống báo chí, truyền thông hiện nay, đưa đến phong trào
đòi hỏi tự do báo chí thật sự tại Việt Nam. Trong tất cả sự sợ
hãi đó, sự sợ hãi lớn nhất là một cao trào đấu tranh dân chủ bung
lên mạnh mẽ làm sụp đổ chế độ. Luồng gió sợ hãi rõ ràng đang xoay
chiều và đây là lúc phải làm "những gì cộng sản sợ".
Đây là lý do mà những người dân chủ trong nước đã kêu gọi sự xuất
hiện hoạt động công khai của các đảng phái, để phá vỡ sự độc diễn
của đảng CSVN trên chính trường Việt Nam. Đây là lý do mà tờ "Tự
Do Ngôn Luận" đã công khai phát hành, bất chấp sự cho phép
hay cấm đoán của nhà cầm quyền, nhằm mở đường cho một phong trào
ra báo độc lập và công khai tại Việt Nam. Các cuộc vận động để
có những công đoàn độc lập, các nỗ lực để hình thành những tập
thể luật sư nằm ngoài sự chi phối của chính quyền để tranh đấu
cho quyền lợi cho dân nghèo,... đều là những thế đánh nhắm vào
những gì đảng CSVN đang sợ hãi, để cuối cùng cái sợ sẽ hủy diệt
chế độ CSVN, đúng như lời bà Aung San Suu Kyi đã nhận định.
|