|
"Mọi người có quyền tự do
ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ
biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giăĂới,
bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật,
hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác
theo sự lựa chọn của mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966,
Việt Nam xin tham gia năm 1982.
Trong số này:
TỰ
DO NGÔN LUẬN
Bán nguyệt san ra ngày
1 và 15 mỗi tháng
IN VÀ TẶNG TẠI
VIỆT NAM
Địa chỉ liên lạc:
binhan2005@gmail.com
truongsonvn81@gmail.com
Muốn đọc tờ báo trên mạng, xin mời ghé:
http://tudongonluan.atspace.com
hoặc
http://www.tdngonluan.com
Trong trang mạng trên đây, Quý vị có thể tìm thấy nhiều tài liệu
đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam
|
Ngày
xưa, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dân quân Việt
Nam phải dùng chiến thuật «du kích» để chiến đấu. Theo Việt Nam
Tân Tự Điển của Thanh Nghị, «du kích» được định nghĩa là «lối
đánh giặc bằng những toán quân nhỏ, thiện chiến, luôn lưu động
khi địch với một đối phương đông và nhiều khí giới hơn». Thời
ấy, quân Pháp vừa đông; vừa được huấn luyện đầy đủ từ tướng đến
lính trong các trường võ bị để chiến đấu có kỹ thuật và bài bản;
vừa được cung cấp đầy đủ vũ khí, từ súng nhỏ, lựu đạn, đến xe
tăng, đại bác, bom… cùng với các phương tiện chuyên chở, đi lại
rất hiện đại: xe vận tải, tàu bè, máy bay; lại vừa được ăn uống
rất đầy đủ… Còn nghĩa quân của ta vừa ít, vừa thiếu tập luyện,
vừa dùng vũ khí rất thô sơ: giáo, mác, gươm…; nói chung là thiếu
thốn đủ mọi phương tiện… Muốn giải phóng đất nước thành công,
nếu cứ chiến đấu kiểu chính quy, mặt đối mặt, thì chắc chắn trăm
trận trăm thua! Vì thế, quân ta phải áp dụng chiến thuật du kích,
đánh lén, dấu mặt, và nhiều khi phải chấp nhận vi phạm pháp luật
của nhà nước Pháp thuộc thời ấy… Với lối đánh du kích ấy, quân
ta đã từng làm quân Pháp phải hao binh tổn tướng, nhiều khi thiệt
hại rất nặng nề. Quân ta có hơn được quân địch là hơn ở chính
nghĩa là bảo vệ an nguy tổ quốc mình, ở dũng khí, ở sức mạnh của
lòng ái quốc… Còn quân địch chỉ là kẻ xâm lăng, không chính nghĩa,
động lực của họ chỉ là quyền lợi của đất nước họ, phe nhóm họ
và cá nhân họ.
Nói chung, «du kích» là kiểu đánh của kẻ yếu đối với kẻ mạnh hơn
mình gấp nhiều lần, hoặc của toán quân quá ít người phải chiến
đấu với cả một đoàn địch quân quá đông người. Kẻ yếu và ít người
mà dùng chiến thuật du kích để đánh kẻ mạnh và đông thì ai cũng
chấp nhận được. Nhưng kẻ mạnh và đông mà lại áp dụng chiến thuật
du kích đối với kẻ yếu và ít thì chỉ những kẻ bụng dạ tiểu nhân
mới chấp nhận được và mới làm được thôi. Chẳng khác nào người
lớn, có sức mạnh, có vũ khí trong tay lại đi đánh tay đôi, vừa
đánh lại vừa chơi xấu với một đứa trẻ yếu đuối, tay không vũ khí.
Người quân tử hay người còn liêm sỉ không bao giờ chấp nhận điều
ấy, nhất là không bao giờ thực hiện được điều ấy.
Ngày nay, trong cuộc chiến đấu dành lại quyền tự do và quyền làm
chủ mà đảng cộng sản đã tước đoạt của người dân trên 60 năm qua,
các nhà dân chủ trong nước – vốn còn quá ít ỏi – đang phải tranh
đấu với cả một bộ máy nhà nước rất lớn mạnh, có lực lượng quân
đội và công an – cả chìm lẫn nổi – rất đông đảo và hùng hậu, với
những vũ khí rất tối tân, những phương tiện rất thiện xảo, và
với tiền rừng bạc bể. Trước hai lực lượng bất cân sức như thế,
cứ theo lý luận hợp lý thì đáng lẽ các nhà dân chủ phải áp dụng
chiến thuật du kích đối với nhà nước cộng sản mới đúng. Nhưng
thực tế thì hoàn toàn trái ngược: chính nhà nước cộng sản lớn
mạnh như thế lại áp dụng chiến thuật có thể nói là rất «du kích»
đối với các nhà dân chủ hiện nay. Các nhà dân chủ khắp cả nước
đếm chưa được một trăm người, lại không có một tấc sắt trong tay
để tự vệ, nhưng lại chiến đấu với nhà nước cộng sản theo kiểu
chính quy nhất. Thế mới lạ đời và ngược đời!
Hiện nay, dù rất ít ỏi, dù không một tấc sắt trong tay, các nhà
dân chủ luôn phải chiến đấu một cách công khai, lộ diện, kiểu
«ván bài lật ngửa», bằng những phương tiện rất ôn hòa, bất bạo
động và hợp pháp. Cụ thể và chủ yếu là tranh đấu bằng ngòi bút
của mình trên các trang web, các diễn đàn Internet, và mới đây,
trên cả báo giấy nữa. Ngoài ra, không còn một thứ vũ khí nào khác.
Dù chỉ dùng thứ phương tiện đơn giản và rất ôn hòa ấy, họ vẫn
bị nhà cầm quyền đàn áp, sách nhiễu, đe dọa đủ kiểu, thậm chí
bỏ tù, hãm hại... Dù nắm được đủ mọi ưu thế trong tay, nhà nước
cộng sản vẫn phải dùng những chiến thuật ám muội, lén lút, bỉ
ổi, là khủng bố, gây sợ hãi, bao vây kinh tế, cúp điện thoại,
cúp Internet, sách nhiễu, bắt bớ, giam cầm… để trấn áp, bịt miệng
và hạn chế tối đa số người tranh đấu trong nước cùng khả năng
hoạt động của họ. Rất nhiều trường hợp, để thực hiện việc trấn
áp ấy, nhà nước đã phải vi phạm hiến pháp: họ lập ra những pháp
lệnh, nghị định, nghị quyết, luật pháp đi ngược hẳn lại tinh thần
của hiến pháp cũng do chính họ lập ra. Ngay cả những luật lệ “dưới
hiến pháp” do chính họ đặt ra ấy, nếu cần, họ cũng sẵn sàng chà
đạp, vi phạm. Nếu có một cơ quan Quốc Hội hay tòa án xử lý những
điều luật vi hiến ấy như rất nhiều quốc gia khác trên thế giới
vẫn có, thì sẽ có biết bao điều hay khoản luật trong các pháp
lệnh, nghị quyết… phải đem ra xét xử hoặc xét lại. Và toà án ấy
cũng phải xử vô số những hành động trái pháp luật của chính nhà
cầm quyền hiện nay nữa.
Để xử án các nhà dân chủ, nhiều khi tòa án của nhà nước cộng sản
phải bất chấp quy định của pháp luật, là xử cách lén lút, âm thầm
chứ không dám xử công khai. Họ thường hạn chế tối đa số thân nhân,
đồng bạn hay đồng sự của bị can đến tham dự, thậm chí chỉ còn
1, 2 người, đôi khi chẳng có ai. Như thế hẳn nhiên phải có những
khuất tất, lấp liếm, bất công trong đó. Thật ra xử án chỉ là cách
hợp pháp hóa cách hình thức những bản án bất công đã được giới
cầm quyền định sẵn từ trước. Vụ xử án Lm Nguyễn Văn Lý (2001),
Ms Nguyễn Hồng Quang (2003), Bs Phạm Hồng Sơn (2003), nhà báo
Nguyễn Vũ Bình (2003)… là những chứng cứ rất điển hình. Điều thật
bỉ ổi, đó là: pháp luật, tòa án, thay vì là một phương tiện hữu
hiệu để bênh vực quyền lợi chính đáng của người dân thì trong
rất nhiều trường hợp lại trở thành một công cụ bảo vệ, che chở
cho những bất công và tội ác của chế độ cũng như những người đang
làm việc cho chế độ.
Cách nhà cầm quyền chiến đấu với linh mục Nguyễn Văn Lý là một
điển hình rõ rệt cho sự bất cân xứng về nhân sự và về đủ mọi mặt
giữa nhà nước cộng sản và các nhà dân chủ. Để bắt có một mình
Lm Nguyễn Văn Lý vốn không một tấc sắt trong tay, vào ngày 17-5-2001,
nhà nước đã phải dùng đến chiến thuật biển người, với một lực
lượng công an đông đảo tới 600 người (theo như các nguồn tin đã
loan trên các mạng Internet). Việt Nam đúng là một nước rất nghèo
về nhiều mặt nhưng lại là nước rất giàu về công an! Để chiến đấu
với một kỹ sư Đỗ Nam Hải, họ đã phải dùng một số công an chìm
thay phiên nhau theo dõi từng đường đi nước bước của anh. Anh
Hải cho biết: nhiều tháng nay, anh đi đâu cũng có ít nhất 2 thanh
niên đi theo, có khi 3, có lúc 4… Thế nhưng khi anh phản đối điều
ấy với công an quận Phú Nhuận, thì như anh kể, họ chối phăng như
không bao giờ có chuyện ấy! Để dẫn anh về nhà hầu tịch thu có
mỗi một cục CPU (máy vi tính) của anh, mà công an quận Phú Nhuận
phải huy động cả mười mấy người để làm cái việc rất nhỏ ấy! Có
lần tại công an phường 6 quận 3, vào cuối năm 2005, anh phải làm
việc với một tổ công an gồm 6 người thay phiên nhau thẩm vấn anh,
không chỉ suốt ngày mà còn suốt đêm theo kiểu «xa luân chiến»!
Họ có quyền thay phiên nhau nghỉ ngơi, còn anh thì phải làm việc
liên tục!
Hiện nay, bất kỳ một hành vi tranh đấu nào của các nhà dân chủ
cũng đều phải làm cách công khai. Để tránh bị phiền nhiễu, họ
phải tôn trọng pháp luật tối đa, dù pháp luật ấy đối với họ còn
rất nhiều điều bất công, bất hợp lý, có nhiều điều chẳng những
mâu thuẫn với hiến pháp mà còn mâu thuẫn lẫn nhau nữa. Các nhà
dân chủ phải tôn trọng pháp luật để hạn chế tối đa những duyên
cớ hay lý do mà nhà cầm quyền có thể vin vào để bắt bớ họ. Nếu
có điều gì cần phải bí mật thì không phải vì điều ấy trái pháp
luật, mà chỉ vì các nhà dân chủ không muốn để nhà cầm quyền biết
trước kẻo họ tìm đủ cách phá đám hay ngăn cản mình. Nhưng những
việc tạm thời bí mật ấy sau khi thực hiện xong thì các nhà dân
chủ đều công khai hóa tất cả trên mạng Internet trước thế giới
và trước cả nhà cầm quyền cộng sản nữa. Cụ thể nhất là mới đây
(vào tháng 3 và tháng 4-2006) anh Đỗ Nam Hải đã phải khốn khổ
nhiều ngày chỉ vì nhà cầm quyền muốn ngăn cản anh viết bản Tuyên
Ngôn Tự Do Dân Chủ: họ đã đến bắt anh khi anh đang ăn sáng ở ngoài
tiệm, tịch thu máy vi tính một cách trái pháp luật, làm việc với
anh nhiều ngày để anh không còn tâm trí và thì giờ mà viết… Nhưng
họ đã thất bại vì bản tuyên ngôn vẫn ra đời đúng kỳ hạn, nghĩa
là trước đại hội đảng X!
Sự công khai của các nhà dân chủ cũng được thực hiện ngay trong
những cú điện thoại, những email, những thư từ, vì nhà nước cộng
sản đang nắm trong tay quyền kiểm soát tất cả những thứ ấy. Sự
công khai ấy cũng là một thứ khí giới lợi hại, vì nhờ đó nhà nước
có muốn đàn áp, bịt miệng các nhà dân chủ cách vi hiến hay vi
luật, thì hành động của họ cũng bị trở thành công khai. Các nhà
dân chủ đã phải hành động theo cách thức của một kẻ yếu thế và
đơn độc bị một đám đông bất lương muốn hành hung hãm hại: để được
bảo vệ an toàn thì sự khôn ngoan đòi hỏi người ấy đi đâu cũng
phải đi giữa chốn đông người, chỗ có ánh sáng chan hòa… Nếu đi
vào chỗ vắng, chỗ tối thì có rất nhiều nguy cơ bị hãm hại. Chính
vì thế, vũ khí để tự vệ của các nhà dân chủ hiện nay chính là
công khai mọi hoạt động của mình và những hành vi đàn áp của nhà
cầm quyền trên mạng lưới Internet toàn cầu, để nhất cử nhất động
của mình và của họ đều được phơi bày ra trước ánh sáng.
Cũng chính vì muốn hạn chế thứ vũ khí này của các nhà dân chủ
mà nhà cầm quyền đã cố gắng hạn chế việc sử dụng Internet, điện
thoại của các nhà dân chủ. Hiện nay, anh Đỗ Nam Hải và một số
nhà dân chủ khác đã bị cắt điện thoại di động (dùng sim card)
nhiều lần hoặc bị cúp điện thoại nhà, bị cắt dịch vụ Internet
môt cách trái pháp luật… Không chỉ như thế, anh Hải còn cho biết,
mỗi khi anh vào tiệm Internet thì người theo dõi anh (mà nhiều
khi anh biết mặt) cũng tìm cách vào ngồi ngay bên cạnh anh để
xem anh làm gì, đọc gì… Việc theo dõi của nhà cầm quyền đối với
các nhà dân chủ không được thực hiện cách kín đáo, lịch sự như
trong các nước tự do dân chủ, mà nhiều khi rất trắng trợn, lộ
liễu. Các nhà tranh đấu cho dân chủ chỉ còn biết dựa vào những
quyền căn bản nhất mà hiến pháp Việt Nam và công ước quốc tế đều
công nhận để công khai làm những việc cần thiết cho công cuộc
tranh đấu của mình. Việc làm mới nhất là tự động ra hai tờ báo
giấy «Tự Do Ngôn Luận» và «Hoa Mai» để hành xử quyền tự do ngôn
luận của mình. Nếu bị bắt bớ hay ngăn cấm thì họ cũng phải công
khai hóa việc vi phạm nhân quyền ấy trên mạng lưới toàn cầu.
Trong khi các nhà dân chủ phải luôn luôn tôn trọng pháp luật để
khỏi bị nhà cầm quyền có cớ mà bắt bớ, khó dễ, thì nhà cầm quyền
lại có thể vi phạm chính pháp luật mà họ đặt ra một cách rất công
khai mà vô sự, chẳng ai làm gì được! Nhà cầm quyền chẳng những
có thể tạo ra những điều luật vi hiến để hợp pháp hóa những hành
động đàn áp, như nghị định 31/CP cho công an quyền quản chế khỏi
cần xét xử, mà còn có thể vi phạm ngay chính luật pháp của họ.
Cụ thể như năm 2004 họ đã bắt cóc anh Đỗ Nam Hải buộc anh làm
việc với công an suốt hai ngày hai đêm (một số nhà dân chủ khác
cũng bị tương tự)… mà chẳng có ai xét xử họ. Một số bài báo trên
Internet còn cho biết có những lần công an phải nhờ đến thứ «nhân
dân phẫn nộ» (từ mà công an vẫn dùng) để tiếp tay trong những
vụ đàn áp (chẳng hạn ném mắm tôm, đồ bẩn vào nhà cụ Hoàng Minh
Chính, hành hung hai anh Đỗ Nam Hải và Nguyễn Khắc Toàn trong
tiệm Internet, hoặc mới đây với luật sư Nguyễn văn Đài ở ngoài
đường)…
Nhiều nhà tranh đấu chỉ cần nhận tiền của bạn bè ở ngoại quốc
– dù chỉ là 100, 200 USD để sống qua ngày hầu tiếp tục tranh đấu
trong lúc bị nhà cầm quyền bao vây kinh tế – cũng bị cho là nhận
tiền để «làm tay sai cho những thế lực thù địch». Trong khi đó
các quan lớn đang cầm quyền có thể nhận hàng triệu đôla của nước
ngoài, hoặc biển thủ hàng triệu đôla tiền viện trợ hay vay nợ
nước ngoài mà chẳng có anh công an nào dám hạch sách, cho đến
khi sự việc bị đổ bể do báo chí khui ra. Xem ra nhà nước Việt
Nam không chịu để lọt lưới pháp luật một lỗi nhỏ bằng con muỗi
của các nhà tranh đấu dân chủ hay của dân đen, nhưng lại sẵn sàng
để lọt lưới những tội lớn bằng cả con trâu của những kẻ đang cầm
quyền hay những kẻ cùng phe với họ. Một đằng họ quản lý vô cùng
chặt chẽ, một đằng lại thả lỏng đến mức không thể chấp nhận được.
Sự bất cân xứng về mặt luật pháp giữa hai bên thật quá đáng! Tôi
cứ ngẫm nghĩ mãi câu mà nhiều anh công an nói với tôi: «Việt Nam
tự do gấp triệu lần những nước khác!» và thấy câu ấy quả là đúng
và chí lý… Nhưng dường như chỉ đúng với các cán bộ, những kẻ cầm
quyền, chứ chẳng đúng với người dân chút nào! Với người dân, chẳng
những không đúng mà còn phải hiểu ngược lại mới đúng!
Bài này nêu lên sự bất cân xứng ấy để mọi người thấy rằng Việt
Nam cần phải có một «luật chơi» công bằng của một đất nước thật
sự là tự do dân chủ. «Luật chơi» ấy phải được áp dụng công bằng
cho những khuynh hướng chính trị khác nhau của người dân. Nếu
một nước chỉ có chủ trương hay tiếng nói của một thiểu số cầm
quyền – ở Việt Nam là đảng cộng sản, chỉ gồm 3 triệu đảng viên
(tức chưa được 4%) so với hơn 80 triệu dân – được coi là duy nhất
đúng cách vĩnh viễn, không chấp nhận một tiếng nói nào khác từ
người dân, thì nước ấy làm sao gọi là dân chủ được? Nếu người
dân nào nói lên tiếng nói ôn hòa và hợp lý của mình ngược lại
với chủ trương của thiểu số đang cầm quyền đều bị đàn áp, bị bịt
miệng lại, thì làm sao bảo được là người dân có tự do?
Cuộc tranh đấu của đa số các nhà dân chủ hiện nay ở trong nước
là làm sao thực hiện được một thể chế biết thật sự tôn trọng quyền
làm chủ của người dân, trong ấy mọi người dân, mọi đảng phái đều
có quyền bình đẳng đúng như mọi bản hiến pháp trên thế giới kể
cả của Việt Nam đều quy định. Trong thể chế dân chủ này, người
cộng sản cũng phải bình đẳng và cũng được bình đẳng như mọi công
dân khác, không hơn không kém. Đảng cộng sản tự cho mình độc quyền
cai trị đất nước cách vĩnh viễn, không thời hạn, không nhiệm kỳ,
bất chấp đảng này đã bị thoái hóa trầm trọng, là một điều vô cùng
phi lý. Chính điều phi lý này là nguyên nhân làm nên tình trạng
tụt hậu và nghèo khổ của đất nước hiện nay.
Cuộc tranh đấu của các nhà dân chủ hiện nay là một cuộc tranh
đấu đầy chính nghĩa. Và chính nghĩa đó chính là sức mạnh có thể
lôi kéo được cả toàn dân vào cuộc tranh đấu này. Toàn dân hiện
nay chưa tham gia vào cuộc tranh đấu này vì vẫn còn sợ hãi do
nhà nước kiềm chế quá chặt chẽ bằng những hình thức khủng bố rất
tinh vi. Tuy hiện nay các nhà dân chủ mới chỉ là một nhúm người,
nhưng họ tin tưởng vào chính nghĩa của mình và vào sức mạnh của
chính nghĩa ấy. Còn những kẻ đang cầm quyền hiện nay họ chỉ quyết
tâm bảo vệ chế độ bằng mọi giá, kể cả bằng những việc làm bỉ ổi,
đê hèn, thất nhân tâm như đã nói trên, chỉ vì muốn bảo vệ độc
quyền cai trị để tiếp tục hưởng những đặc quyền đặc lợi từ chế
độ độc tài ấy. Họ không có chính nghĩa.
Cũng như Liên Sô vả các nước cộng sản khác ở Âu châu, chính nghĩa
của các nhà đấu tranh cho dân chủ chắc chắn sẽ thắng lợi vẻ vang.
Chế độ độc tài toàn trị chắc chắn phải cáo chung khi toàn dân
thắng vượt được sợ hãi để cùng sát cánh tranh đấu với các nhà
dân chủ.
TOP
|