|
"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này
bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức
và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết
hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ
phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của
mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
|
S
au Ðại Hội Cộng Sản lần thứ 10, mọi người đã rõ lập trường của
Cộng Sản Việt Nam chẳng những vẫn như cũ, mà còn tệ hơn 5 năm
trước. Nông Ðức Mạnh, một tên mà nhiều người trong đảng Cộng Sản
cũng phải công nhận là vô tài bất tướng, lại dính líu đến vụ tham
nhũng PMU 18, còn quá tuổi ấn định để về hưu. Nhưng vẫn được “tín
nhiệm” để làm Tồng Bí Thư 5 năm nữa. Tướng lãnh quân đội được
bầu vào Trung Ương Ðảng lên tới 18 người, 3 thứ trưởng Công An
đều được vào Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng, tên Công an Lê Hồng
Anh được tín nhiệm ở vị trí số 2 thuộc Bộ Chính Trị. Trong khi
đó, ngành ngoại giao không có ai được vào Trung Ương Ðảng.
Ðể giải thích hiện tượng này, có người cho rằng nay mai Cộng Sản
sẽ thành lập một Ủy Ban An Ninh gồm cả an ninh quân đội và công
an dưới sự điều động của Lê Hồng Anh để nắm vững tình hình nội
chính, tức là đề phòng dân chúng đứng lên lật đổ chế độ. Một chế
độ phải dùng cả 2 lực lượng võ trang và an ninh để đối phó với
dân chúng là một chế độ đang đi dần vào tan rã. Việc tăng số tướng
lãnh tham gia vào Ban Chấp Hành Trung Ương một là để phe quân
đội không bất mãn và làm đảo chánh, hai là Cộng Sản nhận thấy
cao trào đấu tranh của dân chúng ngày càng mạnh và chỉ còn trông
cậy vào quân đội mới có thể “dẹp loạn” được. Việt Cộng còn dự
tính sẽ tái lập chức vụ chính trị viên trong các đơn vị quân đội
từ Ðại đội trở lên để nắm vững tinh thần binh sĩ, lo sợ họ sẽ
ngả theo dân chúng mà không bảo vệ Ðảng. Cũng trong đường hướng
giáo dục binh lính, Việt Cộng có thể sẽ ra lệnh thi hành quân
dịch 18 tháng, để tất cả thanh niên đều được giáo dục chính trị,
trung thành với Ðảng Cộng Sản. Lịch sử Cộng Sản đã chứng minh
Mao Trạch Ðông phải dùng Lâm Bưu, phong cho Lâm Bưu quyền kế vị
khi “cách mạng văn hóa” đến chỗ rối loạn. Hồ Chí Minh đã phải
cho đàn em hạ bệ uy tín của Võ Nguyên Giáp, Ðại Hội X đã giao
phó sinh mệnh cho quân đội là dấu hiệu ngày tàn của Ðảng đã điểm.
Kế hoạch đề phòng một cuộc lật đổ của Cộng Sản đã quá rõ ràng,
không thể suy luận khác được. Từ trước đến nay, Cộng Sản luôn
đề cao vai trò của Ðảng, tức là dân sự và khi nào các lực lượng
võ trang cũng chỉ có ưu tiên thứ 2. Công an mật vụ trong chế độ
Cộng Sản bao giờ cũng được coi là thành phần bảo vệ chế độ hữu
hiệu nhất. Một khi phải dùng đến cả quân đội để bảo vệ Ðảng tức
là tình thế đã quá nguy ngập. Và Việt Cộng hiện nay đang ở vào
tình thế đó. Tình thế phải co cụm, tình thế phải đối đầu với dân
chúng, với tất cả đồng bào. Sự co cụm của Việt Cộng được biểu
hiệu bằng cách gồm 3 cuộc lễ: “Chiến thắng 30 tháng Tư, Kỷ niệm
1 tháng 5 và Ðai Hội X thành công” làm một. Cộng Sản đã nhận biết
được toàn dân trong đó có rất nhiều cán binh Cộng Sản đã từng
tham chiến phỉ nhổ chúng vì sự xâm lăng VNCH. Cộng Sản cũng không
thể nói gì với công nhân lao động về ngày Quốc Tế Lao Ðộng, vì
chúng đã phản bội Công Nông quá trắng trợn, nếu còn “làm lớn chuyện”
ngày Quốc Tế Lao Ðộng e phải gánh chịu những đột biến nguy hiểm,
hoặc sẽ bị cười chê. Cộng Sản cũng không thể huênh hoang cho rằng
“Ðại Hội 10 thành công tốt đẹp” vì Ðại Hội này đã đánh dấu sự
thất bại và sẽ đưa Ðảng đến chỗ tan vỡ. Vì vậy, Việt Cộng phải
dồn tất cả vào một cuộc lễ, làm lấy lệ.
Nông Ðức Mạnh cũng như cả Bộ Chính Trị của Cộng Sản đã không có
đủ khả năng tiên đoán phản ứng của dân chúng khi đưa ra vấn đề
bản Dự Thảo Báo Cáo Chính Trị để dân chúng “góp ý”. Hậu quả là
dân chúng đã quá hăng hái “góp ý”, mà những góp ý đều đi ngược
lại ý muốn của Ðảng. Vì hầu hết đều hoặc đòi bải bỏ điều 4 hiến
pháp, hoặc đòi đa nguyên, đa đảng và những hình thức dân chủ tự
do khác, vì vậy Ðảng không thể nào đưa vào nghị trình được. Sự
kiện này đưa đến nhiều hậu quả tai hại cho Cộng Sản: một là Dân
đã chê bỏ chính sách của Ðảng và cả chế độ của Ðảng, hai là một
lần nữa, Ðảng lại nói láo, hứa hảo với dân chúng, hô hào dân chúng
góp ý rồi không đếm xỉa đến, tệ hơn nữa, một cuốn sách tổng hợp
“những góp ý” đã không được Ðảng cho xuất bản. Ðảng sợ dân. Ba
là nhờ những bài “góp ý” mà nhiều thành phần dân chúng, nhất là
giới bình dân biết được “đảng quá sai lầm, phạm nhiều tội ác và
tụt hậu”.
Một hậu quả nghiêm trọng khác là Ðảng đã góp phần khuyến khích
dân chúng can đảm, không còn sợ Ðảng. Với những hậu quả như vậy,
Ðại Hội X là một sự thất bại lớn lao và đây là Ðại Hội sau cùng
của Ðảng. Trong “3 lễ gồm một” này, Nông Ðức Mạnh đã cho rằng
“sẽ tiếp tục nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phát huy truyền
thống vẻ vang của Ðảng và của dân tộc, kiên định mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Ðây chỉ là những lời nói gượng
gạo, vô nghĩa. Nếu “anh hùng cách mạng” xuất hiện trong thời điểm
này thì anh hùng cách mạng sẽ tiêu diệt Ðảng. Vì “anh hùng cách
mạng” có nhiệm vụ phá bỏ những cái gì đang có để thay vào một
cái gì mới mẻ hơn, khác hơn. Nếu “anh hùng cách mạng” “kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc” thì mục tiêu phải là lật đổ đảng Cộng
Sản, vì Ðảng đã phản lại tổ quốc, dâng đất, dâng biển cho Trung
Cộng. Và nếu Ðảng tiếp tục đi theo con đường “chủ nghĩa xã hội”
là Ðảng đã chấp nhận một chế độ tham nhũng từ trên xuống dưới,
từ trong ra ngoài của Ðảng. Tóm lại, trọng điểm mà Nông Ðức Mạnh
nêu ra là trọng điểm khuyến khích dân chúng đứng lên lật đổ chế
độ của Ðảng. Cộng Sản đã chọn Nông Ðức Mạnh để phá nát Ðảng vào
giai đoạn chót.
Chạy theo một chủ nghĩa sai lầm và tệ hại nhất của nhân loại,
cho đến nỗi quốc gia khai sinh ra nó cũng phải vứt bỏ nó để quay
lại con đường của nhân loại, tổ chức và điều hành 2 cuộc chiến,
gây không biết bao nhiêu tang tóc cho dân tộc, qui phục ngoại
bang một cách mù quáng cho đến nỗi phải dâng đất, dâng biển cho
Trung Cộng, và sau 3 thập niên cai trị đất nước đã đưa cả dân
tộc đến chỗ bại hoại nhất trong lịch sử dân tộc nói riêng, và
nhân loại nói chung. Không có quốc gia nào trên thế giới vào thiên
niên kỷ này còn xuất cảng phụ nữ để làm nô lệ, được rao bán như
những con vật giữa chợ, xuất cảng trẻ em dưới 10 tuổi để hành
nghề mãi dâm ở ngoại quốc, và là một quốc gia tham nhũng trắng
trợn, tiêu xài hàng triệu Mỹ kim cho một cuộc cá độ, như chế độ
Cộng Sản hiện nay, thế mà chế độ này chưa bị lật đổ, thật là một
điều đáng kinh ngạc.
Dân tộc Việt Nam đã quá kiên nhẫn, chờ đợi hết 5 năm này sang
5 năm khác. Và Ðại Hội 10 của Ðảng Cộng Sản với những “sáng kiến”
góp ý của nhân dân, với 15 cuộc Hội Nghị Trung Ương Ðảng, với
những phe phái giành giựt nhau, với những phái đoàn ngoại bang
thăm viếng, chỉ thị, đưa điều kiện, với những góp ý của dân chúng,
nhất là với vụ tham nhũng “vĩ đại” nhất thế giới PMU 18 mà Nông
Ðức Mạnh đã dính líu gần như trực tiếp… mọi người đã hy vọng một
đường lối chính trị cởi mở, dân chủ hóa đất nước để toàn dân có
thể tham gia công cuộc kiến quốc và bảo vệ đất nước.
Nhưng chính Ðại Hội Ðảng Cộng Sản 10 đã làm cho tất cả mọi người
thất vọng! Chính Ðại Hội 10 này đã vạch một ranh giới rõ ràng
giữa toàn dân và Cộng Sản. Không hy vọng sẽ đối thoại, cởi trói
tư duy, tự do, nhân quyền v.v… Qua cuốn Sách Trắng Nhân Quyền,
Cộng Sản đã cho dân chúng Việt Nam và toàn thế giới thấy rõ, ngôn
ngữ của Việt Cộng là một loại ngôn ngữ khác, ngôn ngữ của một
giống quái vật chứ không phải súc vật. Do đó, toàn dân chỉ còn
một con đường: lật đổ chế độ Cộng Sản.
Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung Gia Lợi, Nga Sô đã lật đổ Cộng Sản trong
ôn hòa, bất bạo động. Nhà vua độc tài Nepal đã phải nhượng bộ
dân chúng, chẳng những phải trả quyền hành mà uy quyền của nhà
vua cũng bị sút giảm, Thái Lan đã lật đổ kẻ cầm quyền không bằng
bạo lực. Việt Cộng dù có chuẩn bị bạo lực cũng không thể dùng
bạo lực, trái lại chúng cầm gươm sẽ chết vì gươm.
Bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ cho Việt Nam năm 2006 nói vắn tắt
là Bản Tuyên Ngôn 118 đưa ra những nhận định chính xác về sự khác
biệt giữa độc tài đảng trị và tự do dân chủ., giữa chính nghĩa
và phi nghĩa. Cộng Sản cũng công nhận tự do dân chủ là điều tốt,
là điều mỗi người có quyền được hưởng. Nhưng Cộng Sản độc tài
đưa cho dân tộc loại tự do dân chủ bánh vẽ. Độc tài đảng trị dành
quyền lãnh đạo đất nước cho một đảng, Đảng đó cũng chưa bao giờ
được dân chúng chấp thuận để có quyền điều khiển quốc gia. Vì
vậy Bản Tuyên Ngôn đòi hỏi đa nguyên, đa đảng.
Vì hèn nhát và tham lam, độc đảng (CS) không dám chấp nhận có
cạnh tranh về tài đức lãnh đạo đất nước. Nếu được quyền lựa chọn
một người tốt trong số 10 người, chắc chắn sự lựa chọn sẽ kém
gấp triệu lần giữa sự lựa chọn 1 trong một triệu người. Thực tế
cho thấy Cộng Sản chỉ lựa chọn trong đảng của họ, trong khi 80
triệu dân không có quyền này. Đây là một sự bất công đối với một
dân tộc và một sự vô liêm sỉ đối với những người Cộng Sản. Các
đảng viên Cộng Sản còn lương tâm, liêm sỉ phải suy nghĩ lại. Hậu
quả sự lựa chon hạn hẹp này đã tạo nên những tệ nạn xã hội, buôn
người, tham nhũng, đàn áp tự do v.v…
Bản Tuyên Ngôn 118, đòi hỏi đa nguyên, đa đảng, nếu các đảng viên
Cộng Sản là “thành phần ưu tú”, họ sẽ được dân chúng chọn để đại
diện cho dân. Độc đảng, bầu cử bánh vẽ là ăn gian, bịp bợm. Đất
nước không thể được cai trị bởi những tên ăn gian, bịp bợm.
Để ăn gian, bịp bợm, Việt Cộng đã không cho dân chúng được tự
do ngôn luận. Việt Cộng sợ tự do ngôn luận sẽ vạch trần những
tội ác mà chúng đã làm, những tham nhũng, lộng quyền v.v… nhưng
kinh nghiệm của nhân loại và các nước tự do dân chủ cho hay chính
tự do ngôn luận đã giúp cho nhà cầm quyền không thể phạm tội,
hay khi mới manh nha đã bị phát giác, do đó tội ác của kẻ cầm
quyền không có cơ hội phát triển.
Tự do bầu cử và ứng cử, chẳng những giúp cho mọi người có nhiều
ứng cử viên để lựa chọn người xứng đáng, mà còn giúp cho những
người đang cầm quyền phải làm tốt mới hy vọng dân chúng tín nhiệm
lần tới. Với Cộng Sản, dù tham nhũng, dù hiếp dâm, dù cướp đất,
cướp của của dân chúng vẫn không bị chế tài, vì đảng viên nào
cũng muốn có những đặc quyền, đặc lợi này, ngoài trừ một vài trường
hợp quá lộ liễu đành phải hy sinh làm vật tế thần.
Cái nhà Cộng Sản đã bị hư hại hoàn toàn từ mấy chục năm qua: chạy
theo một chủ nghĩa xấu, tai hại cho nhân loại, tham lam cướp của
dân chúng một cách công khai, tham nhũng hàng triệu, hàng tỉ đô
la, khai thác thân xác phụ nữ và những tội ác khác để làm giàu
và nhất là phản bội tổ quốc. Do đó bản Tuyên Ngôn 118 chủ trương:
thay thế triệt để chế độ độc tài và thay bằng đa nguyên, đa đảng.
Bản Tuyên Ngôn 118 chủ trương đấu tranh HÒA BÌNH, BẤT BẠO ĐỘNG.
Cộng Sản dùng bạo lực để cướp chính quyền, dùng bạo lực để giữ
chính quyền, dùng bưng bít, lường gạt để tự do cướp bóc của dân
chúng, dùng tù đày, ám sát để làm cho dân chúng khiếp sợ, đấu
tranh bất bạo động trang bị can đảm, quyết tâm đi đến thắng lợi.
Ðấu tranh bất bạo động theo thánh Gandhi của Ấn Ðộ “là sự tranh
đấu đến kỳ cùng cho chân lý, cho mục tiêu chính đáng mà người
ta cần phải đạt tới” (Nguyễn Thiếu Nhẫn, Máu Mực Bể Dâu, trang
299).
Bản Tuyên Ngôn 118 là nền tảng cho cuộc đấu tranh bất bạo động
để thay thế chế độ độc tài đảng trị bằng chế độ dân chủ đa nguyên,
đa đảng.
“Tranh đấu đến kỳ cùng cho chân lý” là mục tiêu tối thượng. Mọi
người, mọi giới cần phải góp một bàn tay đấu tranh theo phương
cách của Bản Tuyên Ngôn 118 để san sẽ tất cả những sự đàn áp bất
công bởi bạo lực Cộng Sản và để góp phần tích cực vào chiến thắng
của chân lý, của tự do và nhân quyền. Ðây là lúc toàn dân cương
quyết chọn con đường một mất một còn với chế độ Cộng Sản.
Tuần Báo Tiếng Dân
TOP
|