|
"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này
bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức
và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết
hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ
phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của
mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
|
H
iện nay, Dân Chủ hoá VN là một đề tài thời sự nóng bỏng luôn rạo
rực trong lòng người dân Việt từ giới trí thức, sĩ phu, đến cần
lao, tôn giáo… ở trong nước cũng như ở hải ngoại.
Dân chủ là lẽ sống của con người, là lý tưởng của nhân loại, nhân
danh con người, phụng sự con người theo định hướng CHÂN, THIỆN,
MỸ.
Căn bản của Dân Chủ là Tự Do và Bình Đẳng. Có Tự Do và Bình Đẳng
thì sự phát triển của xã hội mới được tăng tiến và bền vững.
Một đất nước không Dân Chủ như một không gian không có ánh sáng.
Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của cuộc Cách mạng lịch sử
nước Pháp năm 1789 đã long trọng ghi nhận: “Người ta sinh ra Tự
Do và Bình Đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được Tự Do và Bình
Đẳng về quyền lợi …”
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) xác định: “Mọi người sinh
ra đều Tự Do và Bình Đẳng về phẩm giá và các quyền”. (Điều 1).
Nước VN ta có truyền thống dân chủ từ ngàn xưa qua tục lệ của
ấp, làng (phép vua thua lệ làng)… qua Hội Nghị Diên Hồng, Bình
Ngô Đại Cáo (Việc Nhân nghĩa cốt nhứt ở yên dân, đem đại nghĩa
thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo…), Luật Hồng Đức,
v.v. . .
Dưới thời Pháp thuộc, tư tưởng Dân Chủ cũng còn được cổ xuý bởi
những nhân vật tiến bộ, đại thể như: Phạm Quỳnh, Nguyễn Trường
Tộ, Phan Chu Trinh (khai dân trí, chấn dân chí, hậu dân sinh)
v.v…
Nhưng khốn thay! Từ cuộc Cách mạng tháng tám của Đảng Cộng Sản
Việt Nam (CSVN) và nhất là 30 năm sau cùng này (1975-2005) dưới
chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN (CHXHCNVN) thì ánh sáng dân
chủ đã tan biến trên đất nước VN. Trong lúc đó, trên đầu môi chót
lưỡi của đảng CSVN, trên các văn tự của Nhà nước CHXHCNVN, cả
trên Hiến Pháp đều có phô bày dân chủ. Nhưng đây chỉ là một thứ
dân chủ giả hiệu, một thứ dân chủ hình thức để loè bịp công luận
chớ thực chất của nó mà ai ai cũng đều biết là “ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ”,
mọi thứ tự do đều bị bóp chết, mọi thứ quyền lợi của tất cả tầng
lớp nhân dân trong xã hội đều bị những bàn tay vô nhân bất nghĩa
của giới lãnh đạo CSVN bóc lột đến tận xương tuỷ, gây một “quốc
nạn” tham nhũng vào bậc nhất thế giới (xếp hạng 94-143 nước),
đưa đất nước VN trở thành một đất nước nghèo đói vào bậc nhất
toàn cầu.
Tất cả những hiện tượng thê thảm đó là hậu quả của chính sách
“độc tài toàn trị” của đảng CSVN. Chính sách vô nhân đạo bất nghĩa
này đã biến đất nước VN, một đất nước của con Hồng cháu Lạc với
truyền thống 4 ngàn năm văn hiến, với những trang sử oai hùng:
Bạch Đằng Giang, Đống Đa… trở thành một đất nước VN lạc hậu thê
thảm giữa một thế giới đang sôi động vì tiến bộ, đang sôi động
trước cao trào “Toàn cầu hoá Dân chủ”.
Là người dân Việt, mang dòng máu Lạc Hồng, có thể nói tuyệt đại
bộ phận dân Việt đều có lòng yêu nước và đều sợ hãi chủ thuyết
CS, cái chủ thuyết chỉ biết có quyền lợi của Đảng và không có
tình thương người và người.
- Vì sợ hãi mà hằng vạn người phải chôn mình dưới đáy bể sâu để
trốn họa CS sau ngày 30-4-75.
- Vì không chấp nhận cuộc sống nô lệ, cuộc sống không có tự do,
bình đẳng dưới chế độ CS mà gần 3 triệu người VN phải đành xa
lìa quê cha đất tổ để ra sống ở nước ngoài.
Còn lại hơn 80 triệu đồng bào vì không có phương tiện để lánh
họa CS, đành phải ở lại quê nhà, cố gắng chịu đựng sự cai trị
nghiệt ngã của chế độ CHXHCNVN là một chế độ bạo ngược không kém
gì triều đại Tần Thỉ Hoàng bên Tàu, không kém gì chế độ Đức Quốc
Xã của Hitler…
Nhưng ở đời mọi sự đều có giới hạn. “Tức nước phải vỡ bờ”, từ
cuộc nổi dậy ở Thái Bình, một trong những chiếc nôi của CSVN,
cho đến những cuộc đối kháng quyết liệt của Khối Tín Đồ PGHH Thuần
Tuý ở Miền Tây Nam Phần, cho đến những cuộc nổi dậy của các sắc
tộc thiểu số và Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên, cho đến những phong
trào khiếu kiện đòi lại đất của thành phần nông dân nghèo khổ,
cho đến những phong trào đình công khắp 3 miền (Nam, Trung, Bắc)
của hơn 140.000 công nhân, cho đến những cuộc đối kháng liên tục
của các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo: Hòa Thượng Huyền Quang,
Hòa Thượng Quảng Độ…, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Phan Văn
Lợi…, các giới tri thức, sĩ phu, các nhân vật ly khai Đảng CSVN
v.v… là điềm triệu cảnh báo sự suy tàn của chế độ độc tài toàn
trị của đảng CSVN (chính vì sở phế tại nghịch nhơn tâm) có thể
phải đi đến cáo chung.
Hơn nữa, trước xu thế toàn cầu hoá của thời đại, trước sự quan
tâm của thế giới tự do, của nhơn loại yêu chuộng Tự Do, Hoà Bình
và Công Lý, đặc biệt là Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Âu Châu là
những sức đẩy mạnh giúp nhân dân VN đưa CSVN vào bóng tối hay
đến bờ vực thẳm diệt vong, đồng thời là một khích lệ lớn lao cho
những thành phần yêu nước của VN phải mạnh dạn đứng lên để cứu
mình, cứu nước và cứu nguy dân tộc.
Lộ trình 9 điểm để dân chủ hóa VN của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế (Sàigòn),
quan điểm đối với CSVN của Linh Mục Nguyễn Văn Lý (Huế), 9 điểm
hành động căn bản của cựu Nghị Sĩ Việt Nam Cộng Hoà ông Tôn Thất
Uẩn (Luân Đôn), 9 điểm phác thảo chủ trương hành động của ông
Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội), v.v… là những sáng kiến đáng giá
của những bước đi tiến tới Dân Chủ Hoá VN, đáng ghi nhận và đáng
hoan nghênh.
Nhưng có một điều chúng ta không thể không nghĩ đến, đó là “LÀM
THẾ NÀO ĐỂ TIẾN ĐẾN CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ HOÁ VN” ?
Thực trạng của đất nước ta ai cũng có thể biết: tất cả quyền lực
đều nằm trọn trong tay của đảng CSVN với một chế độ độc tài toàn
trị, với một chính sách cai trị nghiệt ngã. Mọi thứ tự do đều
bị bóp chết. Mọi sinh hoạt chánh đáng của người dân, dù lớn dù
nhỏ, dù hợp pháp, hợp lý, hợp tình mà trái với quyền lợi của đảng
CSVN đều bị thẳng tay bóp nghẹt một cách trắng trợn và tàn nhẫn…
thế thì làm sao thực hiện được những sáng kiến vì quyền lợi của
dân, của đất nước, hay dân chủ hoá đất nước ?
Có một vài khái niệm khá hời hợt cho rằng : Nên tạm thời hoà nhập
với CSVN để thực hành một cuộc cách mạng ôn hoà, dần dần chuyển
hoá CSVN tiến đến dân chủ hoá. Quan điểm này nếu nói về lý thuyết
thì khá “êm tai” nhưng xét về hành động trên thực tế thì là một
việc đem muối bỏ xuống bể, là một việc mò kim đáy bể…
Thực tiễn thời gian đã cho ta những kinh nghiệm cụ thể. Từ ngày
Đảng CSVN ra đời (1930) đã có bao nhiêu đoàn thể, đảng phái, tôn
giáo, nhân vật chính trị… không có đầu óc CS, không bị CS đồng
hoá mà hợp tác với CS thì hậu quả là đều bị CS sát hại không một
chút thương tiếc, không còn một chút tình người và người… Một
Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội với Cụ Nguyễn Hải Thần… Một Việt
Nam Quốc Dân Đảng với Cụ Nguyễn Tường Tam… Một tôn giáo dân tộc
Phật Giáo Hoà Hảo (PGHH)… một nhân vật chính trị nổi tiếng Tạ
Thu Thâu, một đồng chí Nguyễn Bình v.v… và v.v… là những nét đậm
trong trang sử giải phóng dân tộc về tội ác phản bội, giết người
phi nhân bất nghĩa của đảng CSVN.
Ngày nay, giở lại ngón “mật ngọt giết ruồi” của ngày xưa, Đảng
CSVN bắn tiếng: Chọn các Việt Kiều ưu tú đem về nước làm Đại Biểu
Quốc Hội… Thật là một cái trò ảo thuật cũ rích cũ mèm, một cái
bẫy lồ lộ, không ắt có ai cảm hứng, hưởng ứng hay vấp bẫy.
Do đó, muốn cứu nguy dân tộc, muốn bước được trên con đường dân
chủ hoá VN, ta phải có một sách lược thích nghi với thực trạng,
thích nghi với nhu cầu hành động mới có thể đi đến đích được.
Dưới đây là một chương trình hành động tạm gọi là “NĂM BƯỚC KHỞI
HÀNH”.
Thứ nhất: HÀNH ĐỘNG NHẤT TRÍ VÀ TRƯỜNG KỲ.
Kinh nghiệm quá khứ đã cho ta thấy suốt 30 năm qua trên đất nước
VN có nhiều phong trào chống CSVN. Nhưng những cuộc chống đối
đó lại là những cuộc chống đối đơn độc, không có sự ủng hộ trực
tiếp và tích cực của các “thành phần bạn”, không có sự nhất trí
toàn diện, nếu có thì chỉ là gián tiếp và cục bộ, nên không có
một cuộc tranh đấu, đối kháng nào đạt được kết quả mong muốn,
luôn bị CS đập tan.
Đó là cái khuyết điểm nghiêm trọng cho những phong trào, những
cuộc đối kháng với CSVN. Phải biết CSVN là một Đảng, một nhà nước,
có đầy đủ quyền lực, phương tiện, âm mưu, thủ đoạn, mà đối kháng
với CSVN lại là những hành động cục bộ, những phong trào tranh
đấu đơn độc, thì khác nào lấy dao để đục núi.
CHÁNH NGHĨA TẤT THẮNG là chân lý muôn đời. Nhưng những phong trào
làm nên lịch sử không thể quên câu “Biết người biết mình, trăm
trận trăm thắng” của Tôn Tử.
Phải biết cái mạnh, cái yếu của đối phương và cái mạnh, cái yếu
của mình.
Trên mặt trận chống CSVN, ta phải thấy cái mạnh của CSVN là: Một
Đảng, một nhà nước với đầy đủ uy lực, nhân lực, tài lực, vật lực,
có một hệ thống Công An dày đặc, có quân đội, có hệ thống hành
chánh khắp cùng làng xã, có hệ thống đối ngoại (ngoại giao) tương
đối rộng rãi… và cái yếu của CSVN là: phải đối đầu với xu thế
thời đại (toàn cầu hoá dân chủ) mà nhà nước VN là nhà nước CS,
phải ứng phó trước mọi sức ép của thế giới tự do, của nhơn loại
yêu chuộng Tự Do, Hoà Bình và Công Lý mà chính sách của đảng CSVN
là một chính sách độc tài toàn trị, bóp chết tự do, dùng bạo lực
đàn áp nhân dân, tạo bất ổn định xã hội, bóp méo công lý hay lợi
dụng công lý làm môi trường phát huy những hành động phi công
lý, phi luật pháp… phải đương đầu với những phong trào chống đối
ở trong nước đòi tự do, đòi Dân chủ và Nhân Quyền… một cách quyết
liệt và liên tục… phải đối phó với cuộc bất ổn nội bộ, một số
đảng viên CS nổi lên chống lại đảng, bỏ đảng, bỏ chủ thuyết Mac-Lenine,
bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi Dân Chủ, đòi Tự Do... Đây là cái
yếu nghiêm trọng nhất của đảng CSVN hay gọi là bị “vòi trong xương”,
bị “ung thư máu”.
Còn về phần chúng ta, các phong trào chống CSVN có cái mạnh là:
Có chánh nghĩa, và chánh nghĩa tất thắng là yếu tố tất yếu, là
niềm tin dạt dào đối với những cuộc tranh đấu chống cộng... có
được sự ủng hộ của thế giới tự do, của nhơn loại yêu chuộng Tự
Do, Hoà Bình và Công Lý trên khắp thế giới, điển hình qua Nghị
Quyết 1481 của Quốc Hội Âu Châu, qua những Nghị Quyết của Quốc
Hội Hoa Kỳ... có được sự ủng hộ khá nhiệt tình của gần 3 triệu
đồng hương ở khắp thế giới, nhất là trên đất nước Mỹ... có được
tinh thần hy sinh, kiên quyết của gần như hầu hết thành phần chống
Cộng và đây là vũ khí sắc bén nhất để đẩy lùi Đảng CSVN vào bóng
tối, đến bờ vực thẳm diệt vong... Và cái yếu của chúng ta là:
những cuộc tranh đấu nổi lên rời rạc, người này làm người kia
đứng ngó hay có ủng hộ thì ủng hộ không nhiệt tình, thiếu phương
tiện truyền thông để chuyển đầy đủ các diễn biến từ trong nước
ra nước ngoài để động viên tinh thần ủng hộ của quốc tế, không
đủ tiền bạc, phương tiện để hoạt động vì luôn bị CS bao vây kinh
tế, và cái nhược điểm này là nguyên nhân chánh làm gián đoạn chương
trình hành động của các cuộc chống đối với CSVN.
Qua một ít nhận định đại lược kể trên, ta đã thấy được cái yếu
và cái mạnh của đối phương (CSVN) và cái mạnh, cái yếu của chính
bản thân mình (các phong trào chống cộng).
Thế thì muốn đưa những cuộc chống đối CSVN đến thắng lợi cuối
cùng thì ta phải có một tinh thần HÀNH ĐỘNG NHẤT TRÍ VÀ TRƯỜNG
KỲ... tức là một thành phần chống đối khởi dậy, thì các thành
phần chống đối CS khác phải nhất tề đứng lên tích cực ủng hộ,
tham gia, mười người như một, trăm người như một. Có thế mới tạo
được một sức mạnh tổng hợp khả dĩ đương đầu với CSVN, đẩy lùi
CSVN vào bóng tối, tạo cho CSVN rơi vào cái thế “lưỡng đầu thọ
địch”: một mặt phải đối phó với sức ép của thế giới tự do, một
mặt phải đương đầu với thành phần chống đối trong nước và cuối
cùng CSVN không bị đẩy lùi thì cũng phải nhượng bộ, không nhượng
bộ thì phải bị đẩy lùi... đó là chúng ta đạt được thắng lợi để
tiến bước vào con đường dân chủ hoá Việt Nam.
Thứ hai: HỆ THỐNG HOÁ CÁC PHONG TRÀO, CÁC LỰC LƯỢNG CHỐNG CỘNG.
Tự nghìn xưa, cuộc khởi nghĩa nào muốn đi đến thành công đều phải
hệ thống hoá hay thống nhất hoá các thành phần cùng chung mục
đích.
Có hệ thống lãnh đạo mới đặt được cương lĩnh. Có cương lĩnh mới
đặt ra được chương trình hành động thích nghi với xu thế thời
đại, phù hợp với tâm lý của quảng đại quần chúng. Cuộc khởi nghĩa
nào được quảng đại quần chúng tham gia, ủng hộ thì cuộc khởi nghĩa
đó mới đi đến thành công... điển hình qua cuộc khởi nghĩa “Cờ
lau” của Vua Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh), cuộc khởi nghĩa “Lam
Sơn’ của Vua Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa “Tây Sơn” của Vua Quang Trung
Nguyễn Huệ...
Kể ra, thành phần chống Cộng, sau ngày 30-4-75 không phải là ít,
nhưng vì “mạnh ai nấy làm” không hệ thống hoá được thành một lực
lượng khả dĩ đương đầu với CSVN. giống như một trăm chiếc đũa
để rời ra từng chiếc, thì một đứa trẻ lên mười cũng có thể lần
lượt bẻ gãy hết, ngược lại, nếu 100 chiếc đũa bó lại thành một
bó thì dù là đại lực sĩ cũng không bẻ gãy nổi.
Đây là cái nhược điểm hàng đầu của phong trào chống CSVN và cũng
vì cái nhược điểm này mà 30 năm qua, những cuộc nổi dậy chống
CSVN, những cuộc đối đầu với CSVN đều bị CSVN đập tan, bao nhiêu
người đã bị giết chết, bao nhiêu người đã bị tù đày, bao nhiêu
gia đình phải nhà tan cửa nát, mà đảng CSVN vẫn còn trơ trơ, chế
độ độc tài toàn trị vẫn còn đè nặng lên đời sống của người dân
Việt.
Thấy biết được nguyên nhân của sự việc ắt có cách giải quyết,
cũng như một lương y thấy đúng được căn bịnh tất nhiên có cách
trị liệu.
Hiện nay ở hải ngoại, trong gần 3 triệu Việt kiều, số người chống
Cộng, ưu tư đến tiền đồ Tổ quốc không phải là ít và gần như hầu
hết nằm trong 2 thành phần: Tôn giáo và chính trị.
Để đáp ứng nhu cầu tất yếu hiện nay trong trận tuyến chống CSVN,
đã rút kinh nghiệm như trình bày trên, chúng ta phải hình thành
ngay 2 tổ chức:
a)- Hội Đồng Liên Tôn hải ngoại gồm các tôn giáo hiện hữu và các
nhân vật tín đồ liên hệ.
b)- Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc VN gồm các đảng phái, hội đoàn,
các nhân vật trí thức, nhân sĩ, sinh viên, v.v. . .
Hai tổ chức này tạo thành một cái “thế ỷ dốc” hai mà một, một
mà hai, hành động tương liên nhịp nhàng, vừa tạo uy tín với quốc
tế, vừa yểm trợ thiết thực cho các cuộc tranh đấu tại quê nhà,
vừa đại diện cho các tổ chức chống Cộng tại VN, tạo một uy thế
tổng hợp cân đối với CSVN trên trường quốc tế... và có như thế
tiếng nói của phong trào mới có trọng lượng, bắt buộc CSVN phải
chấp nhận những điều mà nhân dân VN đòi hỏi. Trong trường hợp
CSVN cưỡng lý thì uy tín của phong trào là một sức mạnh đáng kể
tiếp tay với các tổ chức chống cộng ở Việt Nam đẩy lùi CSVN vào
bóng tối, hoặc là giải thể CSVN bằng một cuộc cách mạng ôn hoà,
hợp pháp với sự hỗ trợ của thế giới tự do.
Trong lúc đó, ở VN các thành phần chống Cộng cũng phải hình thành
ngay 2 tổ chức:
a)- Hội Đồng Liên Tôn gồm các tôn giáo tại VN. Đây là thành phần
chủ lực đối đầu với Đảng CSVN vì nhân số của các tôn giáo chiếm
tỷ lệ trên 50% trong tổng dân số VN.
Năm 2001, Hội Đồng Liên Tôn đã được hình thành giữa Đại diện của
Công Giáo, Phật Giáo VN Thống Nhất, PGHH Thuần Tuý nhưng phải
tạm ngưng hoạt động vì Cha Lý bị CS bắt cầm tù, Đạo Trưởng Lê
Quang Liêm bị CS bắt, đấu tố rồi quản chế 4 năm, Hoà Thượng Thích
Thiện Hạnh bị quản chế... nay chỉ cần chỉnh đốn lại là có thể
hoạt động ngay.
b)- Mặt Trận Cứu Nguy dân Tộc hay Mặt Trận cứu quốc gồm Đảng Dân
Chủ Nhân Dân hiện hữu, giới trí thức, nhân vật chính trị, kể cả
những nhân vật ly khai đảng CS, sinh viên, đại diện công nhân,
đại diện nhân dân lao động v.v…
Thành phần 2 tổ chức này, tất nhiên, bước đầu phải chấp nhận mọi
sự khủng bố, đàn áp của CSVN, nhưng nếu bị đàn áp càng nhiều càng
phơi bày ra trước thế giới tự do chính sách độc tài toàn trị của
đảng CSVN và thế giới tự do sẽ không để yên cho CSVN được tự do
“làm mưa làm gió” trên đất nước VN, và những áp lực của thế giới
tự do sẽ là những động lực mạnh mẽ và hữu hiệu đẩy mạnh cuộc dân
chủ hoá VN mau đến đích.
(xin xem tiếp số sau)
TOP
|