Bán Nguyệt San - Số 3 * 15 tháng Năm, 2006

 
 

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình".
      (Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982.
     

Trong số này:

H iện nay, Dân Chủ hoá VN là một đề tài thời sự nóng bỏng luôn rạo rực trong lòng người dân Việt từ giới trí thức, sĩ phu, đến cần lao, tôn giáo… ở trong nước cũng như ở hải ngoại.
      Dân chủ là lẽ sống của con người, là lý tưởng của nhân loại, nhân danh con người, phụng sự con người theo định hướng CHÂN, THIỆN, MỸ.
      Căn bản của Dân Chủ là Tự Do và Bình Đẳng. Có Tự Do và Bình Đẳng thì sự phát triển của xã hội mới được tăng tiến và bền vững.
      Một đất nước không Dân Chủ như một không gian không có ánh sáng.
      Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của cuộc Cách mạng lịch sử nước Pháp năm 1789 đã long trọng ghi nhận: “Người ta sinh ra Tự Do và Bình Đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được Tự Do và Bình Đẳng về quyền lợi …”
      Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948) xác định: “Mọi người sinh ra đều Tự Do và Bình Đẳng về phẩm giá và các quyền”. (Điều 1).
      Nước VN ta có truyền thống dân chủ từ ngàn xưa qua tục lệ của ấp, làng (phép vua thua lệ làng)… qua Hội Nghị Diên Hồng, Bình Ngô Đại Cáo (Việc Nhân nghĩa cốt nhứt ở yên dân, đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo…), Luật Hồng Đức, v.v. . .
      Dưới thời Pháp thuộc, tư tưởng Dân Chủ cũng còn được cổ xuý bởi những nhân vật tiến bộ, đại thể như: Phạm Quỳnh, Nguyễn Trường Tộ, Phan Chu Trinh (khai dân trí, chấn dân chí, hậu dân sinh) v.v…
      Nhưng khốn thay! Từ cuộc Cách mạng tháng tám của Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) và nhất là 30 năm sau cùng này (1975-2005) dưới chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa VN (CHXHCNVN) thì ánh sáng dân chủ đã tan biến trên đất nước VN. Trong lúc đó, trên đầu môi chót lưỡi của đảng CSVN, trên các văn tự của Nhà nước CHXHCNVN, cả trên Hiến Pháp đều có phô bày dân chủ. Nhưng đây chỉ là một thứ dân chủ giả hiệu, một thứ dân chủ hình thức để loè bịp công luận chớ thực chất của nó mà ai ai cũng đều biết là “ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ”, mọi thứ tự do đều bị bóp chết, mọi thứ quyền lợi của tất cả tầng lớp nhân dân trong xã hội đều bị những bàn tay vô nhân bất nghĩa của giới lãnh đạo CSVN bóc lột đến tận xương tuỷ, gây một “quốc nạn” tham nhũng vào bậc nhất thế giới (xếp hạng 94-143 nước), đưa đất nước VN trở thành một đất nước nghèo đói vào bậc nhất toàn cầu.
      Tất cả những hiện tượng thê thảm đó là hậu quả của chính sách “độc tài toàn trị” của đảng CSVN. Chính sách vô nhân đạo bất nghĩa này đã biến đất nước VN, một đất nước của con Hồng cháu Lạc với truyền thống 4 ngàn năm văn hiến, với những trang sử oai hùng: Bạch Đằng Giang, Đống Đa… trở thành một đất nước VN lạc hậu thê thảm giữa một thế giới đang sôi động vì tiến bộ, đang sôi động trước cao trào “Toàn cầu hoá Dân chủ”.
      Là người dân Việt, mang dòng máu Lạc Hồng, có thể nói tuyệt đại bộ phận dân Việt đều có lòng yêu nước và đều sợ hãi chủ thuyết CS, cái chủ thuyết chỉ biết có quyền lợi của Đảng và không có tình thương người và người.
      - Vì sợ hãi mà hằng vạn người phải chôn mình dưới đáy bể sâu để trốn họa CS sau ngày 30-4-75.
      - Vì không chấp nhận cuộc sống nô lệ, cuộc sống không có tự do, bình đẳng dưới chế độ CS mà gần 3 triệu người VN phải đành xa lìa quê cha đất tổ để ra sống ở nước ngoài.
      Còn lại hơn 80 triệu đồng bào vì không có phương tiện để lánh họa CS, đành phải ở lại quê nhà, cố gắng chịu đựng sự cai trị nghiệt ngã của chế độ CHXHCNVN là một chế độ bạo ngược không kém gì triều đại Tần Thỉ Hoàng bên Tàu, không kém gì chế độ Đức Quốc Xã của Hitler…
      Nhưng ở đời mọi sự đều có giới hạn. “Tức nước phải vỡ bờ”, từ cuộc nổi dậy ở Thái Bình, một trong những chiếc nôi của CSVN, cho đến những cuộc đối kháng quyết liệt của Khối Tín Đồ PGHH Thuần Tuý ở Miền Tây Nam Phần, cho đến những cuộc nổi dậy của các sắc tộc thiểu số và Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên, cho đến những phong trào khiếu kiện đòi lại đất của thành phần nông dân nghèo khổ, cho đến những phong trào đình công khắp 3 miền (Nam, Trung, Bắc) của hơn 140.000 công nhân, cho đến những cuộc đối kháng liên tục của các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo: Hòa Thượng Huyền Quang, Hòa Thượng Quảng Độ…, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Linh Mục Phan Văn Lợi…, các giới tri thức, sĩ phu, các nhân vật ly khai Đảng CSVN v.v… là điềm triệu cảnh báo sự suy tàn của chế độ độc tài toàn trị của đảng CSVN (chính vì sở phế tại nghịch nhơn tâm) có thể phải đi đến cáo chung.
      Hơn nữa, trước xu thế toàn cầu hoá của thời đại, trước sự quan tâm của thế giới tự do, của nhơn loại yêu chuộng Tự Do, Hoà Bình và Công Lý, đặc biệt là Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Âu Châu là những sức đẩy mạnh giúp nhân dân VN đưa CSVN vào bóng tối hay đến bờ vực thẳm diệt vong, đồng thời là một khích lệ lớn lao cho những thành phần yêu nước của VN phải mạnh dạn đứng lên để cứu mình, cứu nước và cứu nguy dân tộc.
      Lộ trình 9 điểm để dân chủ hóa VN của Bác sĩ Nguyễn Đan Quế (Sàigòn), quan điểm đối với CSVN của Linh Mục Nguyễn Văn Lý (Huế), 9 điểm hành động căn bản của cựu Nghị Sĩ Việt Nam Cộng Hoà ông Tôn Thất Uẩn (Luân Đôn), 9 điểm phác thảo chủ trương hành động của ông Nguyễn Thanh Giang (Hà Nội), v.v… là những sáng kiến đáng giá của những bước đi tiến tới Dân Chủ Hoá VN, đáng ghi nhận và đáng hoan nghênh.
      Nhưng có một điều chúng ta không thể không nghĩ đến, đó là “LÀM THẾ NÀO ĐỂ TIẾN ĐẾN CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ HOÁ VN” ?
      Thực trạng của đất nước ta ai cũng có thể biết: tất cả quyền lực đều nằm trọn trong tay của đảng CSVN với một chế độ độc tài toàn trị, với một chính sách cai trị nghiệt ngã. Mọi thứ tự do đều bị bóp chết. Mọi sinh hoạt chánh đáng của người dân, dù lớn dù nhỏ, dù hợp pháp, hợp lý, hợp tình mà trái với quyền lợi của đảng CSVN đều bị thẳng tay bóp nghẹt một cách trắng trợn và tàn nhẫn… thế thì làm sao thực hiện được những sáng kiến vì quyền lợi của dân, của đất nước, hay dân chủ hoá đất nước ?
      Có một vài khái niệm khá hời hợt cho rằng : Nên tạm thời hoà nhập với CSVN để thực hành một cuộc cách mạng ôn hoà, dần dần chuyển hoá CSVN tiến đến dân chủ hoá. Quan điểm này nếu nói về lý thuyết thì khá “êm tai” nhưng xét về hành động trên thực tế thì là một việc đem muối bỏ xuống bể, là một việc mò kim đáy bể…
      Thực tiễn thời gian đã cho ta những kinh nghiệm cụ thể. Từ ngày Đảng CSVN ra đời (1930) đã có bao nhiêu đoàn thể, đảng phái, tôn giáo, nhân vật chính trị… không có đầu óc CS, không bị CS đồng hoá mà hợp tác với CS thì hậu quả là đều bị CS sát hại không một chút thương tiếc, không còn một chút tình người và người… Một Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội với Cụ Nguyễn Hải Thần… Một Việt Nam Quốc Dân Đảng với Cụ Nguyễn Tường Tam… Một tôn giáo dân tộc Phật Giáo Hoà Hảo (PGHH)… một nhân vật chính trị nổi tiếng Tạ Thu Thâu, một đồng chí Nguyễn Bình v.v… và v.v… là những nét đậm trong trang sử giải phóng dân tộc về tội ác phản bội, giết người phi nhân bất nghĩa của đảng CSVN.
      Ngày nay, giở lại ngón “mật ngọt giết ruồi” của ngày xưa, Đảng CSVN bắn tiếng: Chọn các Việt Kiều ưu tú đem về nước làm Đại Biểu Quốc Hội… Thật là một cái trò ảo thuật cũ rích cũ mèm, một cái bẫy lồ lộ, không ắt có ai cảm hứng, hưởng ứng hay vấp bẫy.
      Do đó, muốn cứu nguy dân tộc, muốn bước được trên con đường dân chủ hoá VN, ta phải có một sách lược thích nghi với thực trạng, thích nghi với nhu cầu hành động mới có thể đi đến đích được.
      Dưới đây là một chương trình hành động tạm gọi là “NĂM BƯỚC KHỞI HÀNH”.
      Thứ nhất: HÀNH ĐỘNG NHẤT TRÍ VÀ TRƯỜNG KỲ.
      Kinh nghiệm quá khứ đã cho ta thấy suốt 30 năm qua trên đất nước VN có nhiều phong trào chống CSVN. Nhưng những cuộc chống đối đó lại là những cuộc chống đối đơn độc, không có sự ủng hộ trực tiếp và tích cực của các “thành phần bạn”, không có sự nhất trí toàn diện, nếu có thì chỉ là gián tiếp và cục bộ, nên không có một cuộc tranh đấu, đối kháng nào đạt được kết quả mong muốn, luôn bị CS đập tan.
      Đó là cái khuyết điểm nghiêm trọng cho những phong trào, những cuộc đối kháng với CSVN. Phải biết CSVN là một Đảng, một nhà nước, có đầy đủ quyền lực, phương tiện, âm mưu, thủ đoạn, mà đối kháng với CSVN lại là những hành động cục bộ, những phong trào tranh đấu đơn độc, thì khác nào lấy dao để đục núi.
      CHÁNH NGHĨA TẤT THẮNG là chân lý muôn đời. Nhưng những phong trào làm nên lịch sử không thể quên câu “Biết người biết mình, trăm trận trăm thắng” của Tôn Tử.
      Phải biết cái mạnh, cái yếu của đối phương và cái mạnh, cái yếu của mình.
      Trên mặt trận chống CSVN, ta phải thấy cái mạnh của CSVN là: Một Đảng, một nhà nước với đầy đủ uy lực, nhân lực, tài lực, vật lực, có một hệ thống Công An dày đặc, có quân đội, có hệ thống hành chánh khắp cùng làng xã, có hệ thống đối ngoại (ngoại giao) tương đối rộng rãi… và cái yếu của CSVN là: phải đối đầu với xu thế thời đại (toàn cầu hoá dân chủ) mà nhà nước VN là nhà nước CS, phải ứng phó trước mọi sức ép của thế giới tự do, của nhơn loại yêu chuộng Tự Do, Hoà Bình và Công Lý mà chính sách của đảng CSVN là một chính sách độc tài toàn trị, bóp chết tự do, dùng bạo lực đàn áp nhân dân, tạo bất ổn định xã hội, bóp méo công lý hay lợi dụng công lý làm môi trường phát huy những hành động phi công lý, phi luật pháp… phải đương đầu với những phong trào chống đối ở trong nước đòi tự do, đòi Dân chủ và Nhân Quyền… một cách quyết liệt và liên tục… phải đối phó với cuộc bất ổn nội bộ, một số đảng viên CS nổi lên chống lại đảng, bỏ đảng, bỏ chủ thuyết Mac-Lenine, bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi Dân Chủ, đòi Tự Do... Đây là cái yếu nghiêm trọng nhất của đảng CSVN hay gọi là bị “vòi trong xương”, bị “ung thư máu”.
      Còn về phần chúng ta, các phong trào chống CSVN có cái mạnh là: Có chánh nghĩa, và chánh nghĩa tất thắng là yếu tố tất yếu, là niềm tin dạt dào đối với những cuộc tranh đấu chống cộng... có được sự ủng hộ của thế giới tự do, của nhơn loại yêu chuộng Tự Do, Hoà Bình và Công Lý trên khắp thế giới, điển hình qua Nghị Quyết 1481 của Quốc Hội Âu Châu, qua những Nghị Quyết của Quốc Hội Hoa Kỳ... có được sự ủng hộ khá nhiệt tình của gần 3 triệu đồng hương ở khắp thế giới, nhất là trên đất nước Mỹ... có được tinh thần hy sinh, kiên quyết của gần như hầu hết thành phần chống Cộng và đây là vũ khí sắc bén nhất để đẩy lùi Đảng CSVN vào bóng tối, đến bờ vực thẳm diệt vong... Và cái yếu của chúng ta là: những cuộc tranh đấu nổi lên rời rạc, người này làm người kia đứng ngó hay có ủng hộ thì ủng hộ không nhiệt tình, thiếu phương tiện truyền thông để chuyển đầy đủ các diễn biến từ trong nước ra nước ngoài để động viên tinh thần ủng hộ của quốc tế, không đủ tiền bạc, phương tiện để hoạt động vì luôn bị CS bao vây kinh tế, và cái nhược điểm này là nguyên nhân chánh làm gián đoạn chương trình hành động của các cuộc chống đối với CSVN.
      Qua một ít nhận định đại lược kể trên, ta đã thấy được cái yếu và cái mạnh của đối phương (CSVN) và cái mạnh, cái yếu của chính bản thân mình (các phong trào chống cộng).
      Thế thì muốn đưa những cuộc chống đối CSVN đến thắng lợi cuối cùng thì ta phải có một tinh thần HÀNH ĐỘNG NHẤT TRÍ VÀ TRƯỜNG KỲ... tức là một thành phần chống đối khởi dậy, thì các thành phần chống đối CS khác phải nhất tề đứng lên tích cực ủng hộ, tham gia, mười người như một, trăm người như một. Có thế mới tạo được một sức mạnh tổng hợp khả dĩ đương đầu với CSVN, đẩy lùi CSVN vào bóng tối, tạo cho CSVN rơi vào cái thế “lưỡng đầu thọ địch”: một mặt phải đối phó với sức ép của thế giới tự do, một mặt phải đương đầu với thành phần chống đối trong nước và cuối cùng CSVN không bị đẩy lùi thì cũng phải nhượng bộ, không nhượng bộ thì phải bị đẩy lùi... đó là chúng ta đạt được thắng lợi để tiến bước vào con đường dân chủ hoá Việt Nam.
      Thứ hai: HỆ THỐNG HOÁ CÁC PHONG TRÀO, CÁC LỰC LƯỢNG CHỐNG CỘNG.
      Tự nghìn xưa, cuộc khởi nghĩa nào muốn đi đến thành công đều phải hệ thống hoá hay thống nhất hoá các thành phần cùng chung mục đích.
      Có hệ thống lãnh đạo mới đặt được cương lĩnh. Có cương lĩnh mới đặt ra được chương trình hành động thích nghi với xu thế thời đại, phù hợp với tâm lý của quảng đại quần chúng. Cuộc khởi nghĩa nào được quảng đại quần chúng tham gia, ủng hộ thì cuộc khởi nghĩa đó mới đi đến thành công... điển hình qua cuộc khởi nghĩa “Cờ lau” của Vua Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh), cuộc khởi nghĩa “Lam Sơn’ của Vua Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa “Tây Sơn” của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ...
      Kể ra, thành phần chống Cộng, sau ngày 30-4-75 không phải là ít, nhưng vì “mạnh ai nấy làm” không hệ thống hoá được thành một lực lượng khả dĩ đương đầu với CSVN. giống như một trăm chiếc đũa để rời ra từng chiếc, thì một đứa trẻ lên mười cũng có thể lần lượt bẻ gãy hết, ngược lại, nếu 100 chiếc đũa bó lại thành một bó thì dù là đại lực sĩ cũng không bẻ gãy nổi.
      Đây là cái nhược điểm hàng đầu của phong trào chống CSVN và cũng vì cái nhược điểm này mà 30 năm qua, những cuộc nổi dậy chống CSVN, những cuộc đối đầu với CSVN đều bị CSVN đập tan, bao nhiêu người đã bị giết chết, bao nhiêu người đã bị tù đày, bao nhiêu gia đình phải nhà tan cửa nát, mà đảng CSVN vẫn còn trơ trơ, chế độ độc tài toàn trị vẫn còn đè nặng lên đời sống của người dân Việt.
      Thấy biết được nguyên nhân của sự việc ắt có cách giải quyết, cũng như một lương y thấy đúng được căn bịnh tất nhiên có cách trị liệu.
      Hiện nay ở hải ngoại, trong gần 3 triệu Việt kiều, số người chống Cộng, ưu tư đến tiền đồ Tổ quốc không phải là ít và gần như hầu hết nằm trong 2 thành phần: Tôn giáo và chính trị.
      Để đáp ứng nhu cầu tất yếu hiện nay trong trận tuyến chống CSVN, đã rút kinh nghiệm như trình bày trên, chúng ta phải hình thành ngay 2 tổ chức:
      a)- Hội Đồng Liên Tôn hải ngoại gồm các tôn giáo hiện hữu và các nhân vật tín đồ liên hệ.
      b)- Phong Trào Giải Phóng Dân Tộc VN gồm các đảng phái, hội đoàn, các nhân vật trí thức, nhân sĩ, sinh viên, v.v. . .
      Hai tổ chức này tạo thành một cái “thế ỷ dốc” hai mà một, một mà hai, hành động tương liên nhịp nhàng, vừa tạo uy tín với quốc tế, vừa yểm trợ thiết thực cho các cuộc tranh đấu tại quê nhà, vừa đại diện cho các tổ chức chống Cộng tại VN, tạo một uy thế tổng hợp cân đối với CSVN trên trường quốc tế... và có như thế tiếng nói của phong trào mới có trọng lượng, bắt buộc CSVN phải chấp nhận những điều mà nhân dân VN đòi hỏi. Trong trường hợp CSVN cưỡng lý thì uy tín của phong trào là một sức mạnh đáng kể tiếp tay với các tổ chức chống cộng ở Việt Nam đẩy lùi CSVN vào bóng tối, hoặc là giải thể CSVN bằng một cuộc cách mạng ôn hoà, hợp pháp với sự hỗ trợ của thế giới tự do.
      Trong lúc đó, ở VN các thành phần chống Cộng cũng phải hình thành ngay 2 tổ chức:
      a)- Hội Đồng Liên Tôn gồm các tôn giáo tại VN. Đây là thành phần chủ lực đối đầu với Đảng CSVN vì nhân số của các tôn giáo chiếm tỷ lệ trên 50% trong tổng dân số VN.
      Năm 2001, Hội Đồng Liên Tôn đã được hình thành giữa Đại diện của Công Giáo, Phật Giáo VN Thống Nhất, PGHH Thuần Tuý nhưng phải tạm ngưng hoạt động vì Cha Lý bị CS bắt cầm tù, Đạo Trưởng Lê Quang Liêm bị CS bắt, đấu tố rồi quản chế 4 năm, Hoà Thượng Thích Thiện Hạnh bị quản chế... nay chỉ cần chỉnh đốn lại là có thể hoạt động ngay.
      b)- Mặt Trận Cứu Nguy dân Tộc hay Mặt Trận cứu quốc gồm Đảng Dân Chủ Nhân Dân hiện hữu, giới trí thức, nhân vật chính trị, kể cả những nhân vật ly khai đảng CS, sinh viên, đại diện công nhân, đại diện nhân dân lao động v.v…
      Thành phần 2 tổ chức này, tất nhiên, bước đầu phải chấp nhận mọi sự khủng bố, đàn áp của CSVN, nhưng nếu bị đàn áp càng nhiều càng phơi bày ra trước thế giới tự do chính sách độc tài toàn trị của đảng CSVN và thế giới tự do sẽ không để yên cho CSVN được tự do “làm mưa làm gió” trên đất nước VN, và những áp lực của thế giới tự do sẽ là những động lực mạnh mẽ và hữu hiệu đẩy mạnh cuộc dân chủ hoá VN mau đến đích.
      (xin xem tiếp số sau)
     

TOP