Bán Nguyệt San - Số 2 * 01 tháng Năm, 2006

 
 

"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm 1982.

Trong số này:



Những đột phá ngoạn mục

Theo dõi những diễn biến trong tiến trình đấu tranh cho tự do, nhân quyền và dân chủ tại quốc nội thời gian gần đây, người ta ghi nhận nhiều sự kiện nối bật đánh dấu những bước ngoặt quan trọng có tính cách quyết định cho tương lai đất nước và dân tộc Việt nam. Từ những tiếng nói phản kháng lẻ tẻ, cá nhân, đã có những vận động đồng loạt mang tính tập thể cất lên đây đó. Những vụ khiếu kiện của dân chúng đã từ con số chục nhân lên hàng trăm, không phải chỉ một vài cá nhân lẻ tẻ rụt rè sợ sệt lai vãng chốn công môn, nhưng đã công khai diễn ra từng giờ, từng ngày tại những nơi công cộng ở Hànội, ở Sàigòn và nhiều đô tỉnh thị trên khắp lãnh thổ. Hiện tượng chống đảng khởi đầu từ những cá nhân đảng viên lâu năm như cựu tướng Trần Độ, cựu đại tá Phạm Quê Dương, các nhân sĩ, trí thức Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu, Phạm Hồng Sơn, Lê Chí Quang, Nguyễn Khắc Toàn, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo-Cự, Hoàng Tiến, Dương Thu Hương, Nguyễn Vũ Bình… đã trở thành một cao trào phản kháng tiêu biểu cho tập thể hơn hai triệu đảng viên. Nó hiển hiện qua những văn thư gọi là góp ý cho Đại Hội X của đảng, mà thực tế là những văn kiện ‘tố cáo xả láng’ những tội ác tày trời của chế độ đương quyền, hệ quả của quốc nạn tham nhũng, lộng hành dẫn tới tình trạng rách nát, tụt hậu thê thảm của đất nước hiện nay.

Hai hiện tượng bứt phá được coi là hi hữu, ngoạn mục, chưa hề có tại quốc nội, trong hơn nửa thế kỷ ở miền bắc và 31 năm ở miền nam. Thứ nhất là cuộc đình công đồng loạt của cả trăm ngàn công nhân các xí nghiệp quanh Sàigòn, Gia Định, Chợ Lớn lan tràn ra Đà Nẵng, Hải Phòng trong những tháng đầu năm 2006. Thứ đến và cũng đáng kể hơn hết là sự xuất hiện gần như cùng lúc của Bản Tuyên Ngôn 118 (cũng gọi là Tuyên Ngôn 2006) và tờ báo IN mang tên TỰ DO NGÔN LUẬN do linh mục Chân Tín được ủy thác trong vai trò chủ nhiệm. Được biết, số đầu bán nguyệt san TDNL đề ngày 15-4-2006 đã được bí mật thực hiện tại hai tụ điểm Huế, Sàigòn, và từ đây đã âm thầm chuyền tay phổ biến rộng rãi trong dân chúng khắp các địa phương trên toàn quốc.

Căn nguyên dẫn tới những đột phá của cao trào đấu tranh hiện nay

Chính những tội ác cùng những mâu thuẫn nội tại tiềm ẩn trong chế độ độc tài toàn trị cộng sản là căn nguyên tạo nên sức bật hiện nay trong cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, quyền sống và quyền làm người của quần chúng Việt Nam. (Xin nhấn mạnh là của quần chúng 80 triệu đồng bào). Như sự tan rã vô phương cứu vãn của cộng đảng Liên Xô và hệ thống chư hầu ở Đông Âu cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 thế kỷ trước, sự cáo chung của chế độ độc tài độc đảng ở Việt Nam –kể cả Trung Hoa- là điều tất yếu. Nó chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi. Không phải chúng ta mà chính những đảng viên kỳ cựu cộng sản đã nhìn nhận điều này. Xin tìm đọc lại chồng hô sơ dài bất tận của các viên chức, đảng viên và thường dân ở quốc nội gửi cho ban trung ương Đại Hội X được tung lên NET trong suốt năm qua là đủ rõ.

Đúc kết những văn kiện gọi là góp ý hay tố giác này, cho dù là muốn cứu đảng hay đánh sập đảng chăng nữa, chúng ta cũng rút ra được một số nhận định dưới đây:

1/ Sự lỗi thời của chủ nghĩa Mác-xít Lê-nin-nít, nhất là sự sai lầm khi du nhập chủ thuyết tàn độc này vào Việt Nam.

2/ Chính chế độ độc tài, độc đảng –cái chính thể được mệnh danh là đảng quyền, bất chấp những thứ gọi là Hiến Pháp do chính nó đẻ ra hoặc những Hiến Chương, những Công Ước Quốc Tế mà nó ký kết tôn trọng, để cai trị bằng luật rừng- đã đẻ ra những tệ trạng làm băng hoại luân thường, đạo lý, nếp sống truyền thống của dân tộc, khiến đất nước bị tụt hậu và quảng đại quần chúng phải sống giật lùi lại thời phong kiến, nô lệ.

3/ Để mở đường cho đất nước và dân tộc tiến lên, chỉ còn có một con đường duy nhất là thiết lập một chế độ chính trị đa nguyên đa đảng, trong đó tiếng nói của người dân, nguyện vọng được sống trong tự do, dân chủ của người dân phải được tái lập.

4/ Con đường ấy chỉ có được khi chế độ độc tài toàn trị cộng sản biến mất trên đất nước này, Tín đồ các tôn giáo –cách riêng, người tín hữu Công giáo- nghĩ gì và phải làm gì trong giai đoạn lịch sử này?

Trong nhiều bài viết, cũng như trong những dịp phát biểu đó đây, người viết đã có dịp trình bày cặn kẽ quan điểm của mình. Trong bài tham luận ngắn ngủi này, chúng tôi xin tóm kết lại như sau: dù sống dưới bất cứ chế độ chính trị nào – kể cả chế độ vô thần cộng sản- dân tộc Việt Nam vẫn mãi mãi là một dân tộc hữu thần. Từ ngàn xưa, chúng ta đã có đạo Thờ Kính Gia Tiên, rồi Tam Giáo (Phật-Lão-Nho). Khi có cơ hội tiếp xúc với thế giới bên ngoài, chúng ta tiếp thu thêm Thiên Chúa Giáo gồm Công giáo và các hệ phái Tin lành. Bên cạnh đó là Phật giáo Hòa hảo và Cao đài giáo.

Cho nên, trong cuộc vận động đấu tranh đòi tự do, dân chủ hiện nay, các tôn giáo nắm vai trò quyết định. Huấn lệnh của những nhân vật có thẩm quyền trong mỗi Giáo hội căn cứ vào cốt lõi niềm tin của mình, có tác động đánh tan mọi sợ hãi trong lòng người tín hữu, thúc đẩy họ vùng lên giành lấy những quyền mà đấng họ tôn thờ đã trao ban cho họ ngay từ lúc bẩm sinh.

Giáo thuyết của mỗi tôn giáo có thể khác nhau, nhưng giáo huấn của mọi tôn giáo đều qui vào một điểm là khuyến thiện, trừng ác (dạy dỗ mọi người làm điều lành, xa tránh và chống lại điều ác độc). Tất cả những gì đang xảy ra trong lòng chế độ cộng sản hiện nay đều đi ngược lại với giáo lý cơ bản của mọi tôn giáo. Nói cách khác, nó chống lại quyền sống, quyền làm người với đầy đủ tự do và nhân phẩm của đại khối 80 triệu đồng bào Việt Nam, dù họ mang nhãn hiệu là Phật giáo, Công giáo hay Tin lành, Cao đài, Hòa hảo.

Là một tín hữu Công giáo, người viết không muốn dài lời nhắc lại những trách nhiệm, bổn phận mà ai cũng biết. Những gì cố TGM Nguyễn Kim Điền đã làm trước đây và những gì các linh mục Chân Tín, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi đã và đang làm hôm nay cùng những lời từng coi là khuôn vàng thước ngọc được viết, được nói ra từ cố Giáo Chủ Gioan Phaolô II, đương kim Giáo Chủ Biển Đức và những giáo phẩm thời danh trong GHCG dưới đây đáng để mọi người chúng ta cùng suy nghĩ.

* Lời cố Giáo chủ Gioan Phaolô II trích trong Tông huấn “Christi-fideles Laici (Người Tín Hữu Giáo Dân) bản chuyển ngữ của Msgr. Trần Văn Hoài và do Phong Trào Cursillo Việt Nam Giáo Phận Orange ấn hành năm 1990:
“Chính nhân phẩm con người là nền tảng của sự bình đẳng với nhau. Vì thế, phải tuyệt đối loại bỏ tất cả mọi hình thức kỳ thị. Tiếc thay nạn kỳ thị đã và vẫn tiếp tục chia rẽ và làm ô nhục gia đình nhân loại, nào là kỳ thị chủng tộc, kỳ thị kinh tế, kỳ thị xã hội, kỳ thị văn hóa, kỳ thị tôn giáo, kỳ thị chính trị, kỳ thị địa dư…Mỗi hình thức kỳ thị là một sự bất công không thể chấp nhận…” (trang 89)
“Sự nhìn nhận phẩm giá con người đòi hỏi người tín hữu phải tôn trọng, bênh vực và thăng tiến các quyền lợi của con người. Đây là quyền tự nhiên, phổ quát và bất khả xâm phạm. Không một ai, cho dù là cá nhân, đoàn thể hay cả quyền bính quốc gia, có thể sửa đổi hay loại bỏ các quyền lợi ấy, vì nó xuất phát từ Đấng tối cao. (Trang 90)
“Giáo Hội không bao giờ chịu bó tay trước bất cứ xâm phạm nào đến quyền sống là quyền của mọi người, dù bởi tư nhân hay chính quyền”. (trang 91)

* Lời đương kim Giáo Chủ Biển Đức trong “Muối Cho Đời” bản dịch Việt ngữ của Phạm Hồng Lam và tiến sĩ Trần Hoành, do PT Giáo Dân VN/HN ấn hành năm 2006
“…Giáo hội phải nói lên cái xấu, cái nguy của thời đại, phải nhắc nhở lương tâm những kẻ cầm quyền, những người trí thức và cả những kẻ thờ ơ, hẹp hòi trước những nỗi thống khổ của thời đại. Là Giám mục tôi thấy có nghĩa vụ phải làm chuyện đó… Lời Chúa trong Kinh thánh và những lời của các giáo phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng nề những mục tử làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn… riêng tôi, tôi kinh sợ cảnh một Giám mục chỉ biết an phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột” (trang 85 bản Việt ngữ - nguyên bản Đức ngữ trang 87-88)
“…như đã nói, nín thở qua sông, theo tôi, là lối lãnh đạo tồi nhất (trang 86 bản Việt ngữ - nguyên bản Đức ngữ trang 88)
“Giáo hội phải mang sứ mạng ngôn sứ phản kháng và phải có can đảm đóng đúng vai trò đó. Chính cái can đảm nói lên sự thật là sức mạnh lớn của Giáo Hội, cho dù lúc đầu nó có vẻ tác hại, làm mất vẻ dễ mến của Giáo Hội, đẩy Giáo Hội vào chỗ cô lập” (trang 250-251 bản Việt ngữ - nguyên bản Đức ngữ trang 256-257)

* Tuyên bố trước 200 ngàn người biểu tình tại Praha ngày 21-11-1989 và được đọc tại các nha thờ trong GHCG Tiệp Chúa Nhật 26-11-89, Đức Hồng Y Tomasek nói:
"Về phần tôi, tôi không thể nào tỏ ra xa lạ với định mệnh quốc gia tôi và toàn thể đồng bào tôi. Tôi không thể im lặng trong lúc tất cả anh chị em đang hiệp lực với nhau để phản đối những bất công mà anh chị em phải chịu từ 40 năm nay. Người ta không thể duy trì lòng tín nhiệm đối với giới lãnh đạo quốc gia không muốn nói sự thật và chối bỏ các quyền lợi và các quyền tự do của nhân dân…"
"Tôi muốn ngỏ lời với tất cả anh chị em trong giờ phút quyết liệt này của lịch sử của chúng ta. Không ai trong anh chị em được đứng ngoài lề. Hãy lên tiếng hợp với tất cả công dân Tiệp Khắc, cùng với những người thuộc sắc tộc khác, dầu họ là tín hữu hay không có tín ngưỡng. Quyền tự do tín ngưỡng không thể tách rời khỏi những quyền dân chủ khác. Tự do là điều không thể phân chia được."

* Lời cố Giám Mục Nguyễn Kim Điền, nguyên TGM Huế tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế giới năm 1971:
“Đã có những giám mục chịu chết vì bênh vực quyền lợi của Hội Thánh, nhưng ngày nay có giám mục nào dám chịu chết để bênh vực quyền lợi của con người không?”

Nam California, Hoa Kỳ
20-4-2006 * TPV


(1) Gọi là Tuyên Ngôn 118 vì nó mang danh tính, địa chỉ của 118 nhân sĩ, tu sĩ, các nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, kể cả dân thường, tiêu biểu cho đại khối dân tộc Việt nam có chung một khát vọng cho tương lai đất nước.

TOP