|
"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này
bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức
và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết
hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ
phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của
mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
|
Ngày
8.4.2006 đánh dấu một mốc nổi bật của phong trào dân chủ nước
ta: 118 nhà đấu tranh dân chủ trong nước đã cho ra mắt bản Tuyên
Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006. Đây là một sự kiện lịch
sử ghi nhận bước trưởng thành mới của phong trào dân chủ nước
ta. Vì rằng dưới một chế độ độc tài toàn trị cực kỳ bạo ngược,
với bộ máy công an hung hãn và mạng lưới mật vụ dày đặc ngày đêm
rình rập, đàn áp khốc liệt, trong một môi trường dân tộc mà đại
đa số sợ sệt cam chịu cúi đầu nhẫn nhục nhiều hơn là hăng hái
đấu tranh... thế mà các chiến sĩ dân chủ trong nước đã tung ra
được bản Tuyên Ngôn 2006 ngay trước ngày đại hội của đảng cầm
quyền họp – thật là một việc làm vô cùng dũng cảm. Từ sự kiện
này, nhiều người liên tưởng đến bản Hiến Chương 77 ra đời hồi
năm 1977 đã thúc đẩy phong trào đấu tranh mạnh mẽ của trí thức,
công nhân và dân chúng Tiệp Khắc và 12 năm sau đã đưa đến cuộc
Cách Mạng Nhung, xoá bỏ nền thống trị cộng sản, giành lấy tự do,
dân chủ thật sự cho người dân. Chúng tôi hy vọng với thời gian,
bản Tuyên Ngôn 2006 sẽ vượt qua được mọi khó khăn, ngày càng phát
huy hấp lực của nó và sẽ góp phần đưa cuộc đấu tranh vì tự do
dân chủ ở nước ta tiến lên một bước cao hơn. Cố nhiên, muốn đạt
được mong ước đó thì điều kiện tiên quyết là mọi lực lượng dân
chủ chân thành yêu nước Việt Nam phải cùng nhau đoàn kết gắn bó,
kiên trì đấu tranh dưới ngọn cờ mà bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ
2006 đã giương lên để cùng nhau đưa bản tuyên ngôn đó thâm nhập
vào đại chúng đông đảo, thức tỉnh và tranh thủ trái tim đại chúng,
làm cho số người dũng cảm gắn bó với phong trào dân chủ ngày càng
đông đảo.
Nhân đây, chúng tôi xin kể lại một chuyện cũ. Cách đây không lâu,
hồi năm 1998-99, chúng tôi cũng đã cố sức vận động để đưa ra bản
Tuyên Ngôn 2000 của các nhà dân chủ trong và ngoài nước, nhưng
sự việc đã không thành. Hồi đó, chúng tôi đã tính toán đến hoàn
cảnh cực kỳ khó khăn của các nhà dân chủ trong nước, nên trong
bản dự thảo chỉ dám đưa ra một cách nhẹ nhàng các đòi hỏi về tự
do dân chủ, nhưng sau khi cân nhắc thực trạng phong trào hồi bấy
giờ, các nhà dân chủ trong nước cho rằng chưa có đủ điều kiện
để tung ra một bản tuyên ngôn như vậy.
Kể lại chuyện đó để thấy rằng dưới chế độ độc tài toàn trị, việc
đưa ra một bản tuyên ngôn đòi tư do dân chủ khó khăn biết chừng
nào, việc đó bắt buộc phải hội đủ những điều kiện chủ quan, khách
quan và đặc biệt nó đòi hỏi một tinh thần hy sinh quên mình, lòng
quả cảm cao độ của các chiến sĩ dân chủ. Nhắc lại chuyện cũ, chính
là để chúng ta vui mừng nhận rõ là ngày nay phong trào dân chủ
trong nước đã tiến được một bước đáng kể, đạt tới một cấp độ mới
để các nhà dân chủ có thể tung ra ngay từ trong nước một bản Tuyên
Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006 với lời lẽ đàng hoàng, thẳng thắn, lý
lẽ rắn rỏi, sắc bén, đặt ra những mục tiêu và phương pháp đấu
tranh minh bạch, cụ thể như vậy. Dĩ nhiên, về mặt nội dung của
bản Tuyên Ngôn 2006, có thể có người này, người khác còn muốn
thêm bớt điểm này, điểm nọ, nhưng phải công nhận rằng những điều
cơ bản của cuộc đấu tranh cho một nền tự do đích thực, một chế
độ dân chủ đa nguyên đều đã được nói rõ trong bản Tuyên Ngôn 2006.
Cái chính là bản Tuyên Ngôn 2006 nói lên được khát vọng lớn của
Dân tộc ta – một dân tộc đau thương, bị tiếm quyền, bị lừa bịp
hàng bao thập niên đang cố vươn lên cuộc sống tự do dân chủ xứng
đáng với Con Người (viết hoa) trong thế kỷ 21. Chính vì nhận thức
như vậy, nên nhiều nhà dân chủ ở hải ngoại đã nhiệt liệt hoan
nghênh và ủng hộ bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006 của 118 nhà
dân chủ trong nước. Một cuộc vận động ký tên sôi nổi đang diễn
ra ở hải ngoại, trong tuần lễ đầu tiên đã có 9607 chữ ký cá nhân,
và nhiều tổ chức đã ký tên tập thể. Còn ở trong nước, bất chấp
mọi khó khăn, việc ký tên vẫn đang tiếp diễn âm thầm. Đó là một
dấu hiệu đầy khích lệ.
Tuy nhiên, “vạn sự khởi đầu nan”! Vượt qua bao gian nguy, bản
Tuyên Ngôn 2006 vừa mới tung ra ngày 8.4, thì đến ngày 14.4 một
văn bản gọi là “Tuyên Ngôn Dân Chủ/Lời Kêu Gọi Đại Đoàn Kêt Vì
Một Nền Dân Chủ Thực Sự Cho Việt Nam” (thực ra, văn bản này là
một lời kêu gọi đúng hơn là một tuyên ngôn) với nội dung khác
hẳn bản Tuyên Ngôn 2006 và với một chữ ký duy nhất của ông Trần
Khuê, thay mặt Ban trị sự Phong Trào Dân Chủ Việt Nam, đã được
tung ra trước sự ngỡ ngàng của rất nhiều người. Hai văn bản dường
như không khác nhau mấy về mục tiêu tự do dân chủ, nhưng về tinh
thần và nội dung thì khác nhau rõ rệt. Điều khó hiểu là chính
ông Trần Khuê trước đấy mấy ngày đã ký tên mình dưới bản Tuyên
Ngôn Tự Do Dân Chủ 2006 của 118 nhà dân chủ trong nước. Càng khó
hiểu hơn nữa, ông Khuê nhân danh Phong Trào Dân Chủ Việt Nam,
nhưng khi một số người hỏi cụ Hoàng Minh Chính là người cách đây
không lâu đã tuyên bố cho ra mắt Phong Trào Dân Chủ Việt Nam,
thì cụ Chính nói rằng cụ chỉ biết và công nhận bản Tuyên Ngôn
2006 mà cụ đã ký. Trong lúc đó, ngày 15.4, tại California, Hoa
Kỳ, ông Nguyễn Xuân Ngãi thay mặt cho Phong Trào Dân Chủ Việt
Nam tại hải ngoại đã tổ chức công bố Tuyên Ngôn Dân Chủ của ông
Trần Khuê. Một số người đến tham dự cứ tưởng là sẽ công bố bản
Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006, khi biết được là bản
tuyên ngôn khác mới thật sự “ngã ngửa ra”! Trong buổi công bố
này, người ta đã đọc bài phát biểu của cụ Hoàng Minh Chính. Theo
một số người cho biết, trước đó cụ Chính cũng cứ ngỡ là công bố
bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 mà cụ đã ký.
Những người thiết tha với sự nghiệp dân chủ hoá nước nhà rất thắc
mắc trước tình trạng “trống đánh xuôi kèn thổi ngược” này. Để
mọi người hiểu rõ thật hư, ngày 16.4, Linh Mục Nguyễn Văn Lý,
một trong những người soạn thảo và ký tên dưới bản Tuyên Ngôn
2006 đã đưa ra một lời minh định, kể rõ sự tình của quá trình
soạn thảo và vận động ký tên, đồng thời nói rõ Phong Trào Dân
Chủ Việt Nam (viết hoa) là danh xưng một tổ chức mới ra mắt ở
Hoa Kỳ. Ngoài cụ Hoàng Minh Chính, ông Trần Khuê (trong nước)
và ông Nguyễn Xuân Ngãi (ở hải ngoại) còn có những ai là thành
viên tổ chức này nữa thì không được rõ. Còn phong trào dân chủ
Việt Nam (không viết hoa) là một cuộc vận động có tính quần chúng
thực sự rộng rãi, bao gồm nhiều nhóm phái, tổ chức có cùng mục
đích chung đấu tranh giành quyền tự do dân chủ.
Đó là những chuyện lủng củng, trục trặc, vấp váp đầu tiên. Phong
trào dân chủ chưa thoát khỏi tình trạng chia rẽ mấy năm qua, nay
lại xảy ra chuyện này. Thật đáng buồn!
Chúng tôi nghĩ rằng trên nguyên tắc dân chủ, dĩ nhiên, ông Khuê
hay bất cứ ai cũng có quyền ra bất cứ tuyên bố, tuyên ngôn nào
mà mình thích. Nhưng đồng thời cũng có một nguyên tắc nữa bắt
buộc một nhà trí thức dân chủ, một nhà chính trị phải tuân theo
– đó là nguyên tắc của nếp sống văn minh, của cách xử sự tử tế
và thái độ trung thực về mặt chính trị. Ai vi phạm nguyên tắc
này thì xã hội cũng có quyền phê phán.
Nhưng, thiết nghĩ, lúc này không phải là lúc để đôi co, chì chiết
nhau, làm chia rẽ thêm hàng ngũ của chúng ta nữa. Sự thể đã xảy
ra thế này rồi thì xin các nhà dân chủ trong và ngoài nước, cũng
như đại chúng cứ nghiên cứu kỹ nội dung mỗi bản tuyên ngôn để
tự mình đánh giá, lựa chọn và quyết định ủng hộ bản tuyên ngôn
nào thì cứ vận động đông đảo người đồng tình cùng ký tên dưới
bản đó. Chữ ký của mỗi người lúc đó càng có thêm trọng lượng và
giá trị vì đã qua sự lựa chọn kỹ càng. Âu cũng là một dịp để chúng
ta thực tập cái quyền tự do lựa chọn rất cần thiết cho cuộc sống
dân chủ sau này. Chúng tôi hy vọng rằng với thời gian, những người
dân chủ trong và ngoài nước cũng như đại chúng sẽ phân biệt rõ
bản tuyên ngôn nào nói lên được khát vọng của dân tộc, đề ra được
mục tiêu đấu tranh rõ ràng, xứng đáng là lá cờ chân chính của
phong trào dân chủ nước ta, còn bản tuyên ngôn nào chỉ là những
lời lẽ kêu gọi chung chung, mờ nhạt, yếu ớt không đáng được quan
tâm. Sự sàng lọc của đại chúng và của thời gian là chính xác nhất.
Trong tình hình hiện nay, chúng tôi không muốn phân tích, phê
phán bản tuyên ngôn nào để các bạn đọc hoàn toàn khách quan, tự
do lựa chọn theo sở nguyện của mình. Tuy nhiên, trong bản Tuyên
Ngôn Dân Chủ / Lời Kêu Gọi... (ngày 14.4) có một câu mà chúng
tôi thấy cần bàn thêm cho sáng tỏ: “Nhại lại Descartes đã đề cao
một chiều lý tính ở con người, Soloviev đưa ra một định thức mà
theo chúng tôi đáng được tất cả mọi người, không phân biệt tôn
giáo, dân tộc, giai cấp, ghi tạc trong tâm thức: Tôi xấu hổ tức
là tôi tồn tại” .... Chúng tôi hy vọng tất cả 1178 đại biểu sắp
dự Đại hội X đều ghi tạc trong tâm thức của mình cái định thức
giàu ý nghĩa trên” (ghi lại đúng nguyên văn). Nói một cách dễ
hiểu hơn, tác giả văn bản ngày 14.4 bày tỏ lòng hy vọng là tất
cả 1178 đại biểu tại Đại hội X của đảng cộng sản sẽ biết xấu hổ
trước tình trạng tụt hậu của đất nước.
Không bàn đến câu nói của triết gia Nga V.Soloviev (1853-1900),
hay văn phong của câu viết, chúng tôi chỉ xin trao đổi thêm về
cái sự “biết xấu hổ” của những người lãnh đạo cộng sản nước ta
mà thôi.
Nhiều năm trước, chúng tôi đã viết rằng “đảng cộng sản từ lâu
đã biến chất rõ rệt”. Nói thế, có nghĩa là từ sau khi nắm được
toàn bộ quyền lực ở trên một nửa đất nước hồi năm 1954, đảng cộng
sản đã mất tính cách mạng, không còn là đảng của quần chúng lao
động, mà trở thành đảng của giai cấp thống trị đè đầu cưỡi cổ
đại chúng, cai trị đất nước bằng khủng bố và lừa mị. Những cuộc
khủng bố kinh hoàng nhất mở đầu thời kỳ đó là cuộc cải cách ruộng
đất đẵm máu ở miền Bắc, tiếp theo là “vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm”,
“vụ án Xét lại-chống Đảng”. Sau khi thiết lập nền thống trị trên
cả nước hồi năm 1975, đảng cộng sản lại càng lộ rõ tính độc tài
toàn trị hơn nữa, nhóm thống trị chóp bu của đảng thực sự là những
kẻ độc tài độc ác không kém gì, thậm chí còn hơn bọn thống trị
dưới chế độ cũ! Hơn một thập niên đầu tiên từ năm 1975, nhóm thống
trị đó đã công nhiên trình diễn tính hung bạo của một nền chuyên
chính không hạn chế, tính phiêu lưu của những chính sách điên
cuồng đẩy cả dân tộc và đất nước vào thảm hoạ. Và ngay bản thân
đảng cộng sản cũng bị dồn đến bờ vực thẳm, suýt sụp đổ. Chỉ đến
khi đó, giai cấp thống trị cộng sản mới chịu nới ra một tí về
mặt kinh tế, nhưng vẫn nắm chặt nền chuyên chế về chính trị. Ngày
nay, đảng cộng sản và đặc biệt là giai cấp cầm quyền thống trị
đảng thực sự là một lực cản lớn kìm hãm sự tiến bộ của đất nước.
(Đọc tiếp số tới)
TOP
|