|
"Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này
bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến mọi loại tin tức
và ý kiến, không phân biệt ranh giới, bằng truyền miệng, bản viết
hoặc bản in, bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua bất cứ
phương tiện truyền thông đại chúng nào khác theo sự lựa chọn của
mình".
(Điều 19,2 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị,
Liên Hiệp Quốc biểu quyết năm 1966, Việt Nam xin tham gia năm
1982.
Trong số này:
|
Suốt
30 năm nay, báo chí truyền thanh truyền hình Cộng sản Việt Nam
vẫn ra rả gọi biến cố 30-4-1975 là “Ngày Giải phóng”!? Đến hôm
đó, mọi cơ quan xí nghiệp phải tổ chức ăn mừng, mọi sinh viên
học sinh phải đi cắm trại hay trình diễn để gọi là kỷ niệm “Năm
thứ…. đất nước nở hoa”!? Có nơi nhân dân buộc phải bỏ công ăn
việc làm để đi biểu tình cám ơn Đảng đã ra công “giải phóng” miền
Nam! Bộ máy tuyên truyền cũng khiến toàn dân nhập tâm cụm từ “Sau
ngày giải phóng”!!
Nhưng ba thập kỷ trôi qua, mỹ từ “giải phóng” ấy phải được hiểu
và đã được hiểu như thế nào?
1- Kinh nghiệm của gần 90 năm chế độ Mác xít cho nhân loại thấy
rằng từ ngữ được Cộng sản dùng - nhất là các từ về chính trị và
xã hội - không nhắm diễn tả đúng bản chất thực tại nhưng nhắm
mê hoặc và lừa gạt tâm trí con người, dư luận quốc tế.
Quả thế, hai từ “giải phóng” (vốn có nghĩa đưa ra khỏi tình trạng
nô dịch, chiếm đóng, đem lại tự do, theo Từ điển tiếng Việt của
Văn Tân), đang được vang lên ầm ỹ trên các phương tiện truyền
thông, tô dán đỏ chói trên các khẩu hiệu khắp thành thị thôn làng
miền Nam sau ngày 30-4-1975, thì cả một hệ thống hành chánh chặt
chẽ chưa từng thấy đã trói buộc chân tay và bao tử nhân dân, qua
chế độ “hộ khẩu” và “tem phiếu”, cả một mạng lưới quản lý-an ninh
dày đặc gồm đảng, chính quyền, công an, mặt trận đã tròng xuống
cổ mọi người, không ai ngọ nguậy nổi.
“Thông điệp giải phóng” của “chính quyền Cách mạng” vừa được ban
ra thì hàng trăm ngàn quân nhân viên chức chế độ Việt Nam Cộng
Hòa -nghe lời kêu gọi hãy trình diện để học tập chính sách của
chế độ mới trong thời gian ngắn rồi sẽ tiếp tục phục vụ đất nước
như cũ- đã bị đày vào những nơi gọi là “trại cải tạo” chốn rừng
thiêng nước độc không hẹn ngày về và gần cả trăm ngàn người phải
bỏ thây tại đó. Vô số nhân tài tiềm lực, sức trẻ thiện chí của
quốc gia bị huỷ bỏ không thương tiếc hay biến thành vô dụng. Gia
đình của họ cũng đau khổ, điêu đứng hay tan nát theo. Bao thế
hệ trẻ mang tiếng “con ngụy” cũng thấy tương lai tiêu tùng vì
bị kỳ thị tàn nhẫn trong học hành và làm việc.
Chế độ mới rêu rao: “Việt Nam đã bước vào kỷ nguyên ánh sáng,
chủ nghĩa xã hội đẹp thêm năm tháng” (lời một bài hát ca tụng
đảng). Thế nhưng hàng ngàn, rồi hàng vạn, rồi hàng triệu người
đã “dại dột” rời bỏ cái xã hội “đẹp đẽ” đó, “dân chủ gấp triệu
lần tư bản” đó.
Cắn răng từ giã quê hương đất mẹ, mồ mả tổ tiên, gia tài sản nghiệp,
họ vượt biển băng rừng, bất chấp bão bùng sóng gió, cướp đường
hải tặc, ra đi tìm đến một nơi vô định với hai bàn tay trắng,
vì không thể hiểu nổi và chịu nổi sự “giải phóng” do CS mang lại.
Gần nửa số người vượt biên đã bỏ thây giữa lòng Nam Hải, vô số
phụ nữ già trẻ đã tan nát cuộc đời trên vịnh Thái Lan, hàng ngàn
kẻ đến nay vẫn bơ vơ trong trại tỵ nạn nơi đất khách quê người.
Mặc cho nghị quyết 36 ra sức chiêu dụ gọi mời, tuyệt đại đa số
đồng bào hải ngoại, dù đã công thành danh toại, lạc nghiệp an
cư và lòng luôn khắc khoải “nỗi sầu viễn xứ”, hiện nay vẫn nhất
quyết không hồi hương để hợp tác làm ăn hay định cư vĩnh viễn,
vì đã thấm thía cái “chế độ giải phóng, chính quyền cách mạng”
này.
Chốn thành thị miền Nam, nhà nước kêu gọi “đi xây dựng quê hương
kinh tế mới”, để “giải phóng tiềm lực sản xuất của nhân dân”,
“làm cuộc cách mạng đổi đời trong lao động vinh quang”. Vì thất
nghiệp, vì thuộc chế độ cũ, vì bị liệt vào sổ đen tư sản bóc lột,
nhiều thị dân đã phải bỏ lại nhà cửa cơ ngơi cho những kẻ chiến
thắng (có lúc bị đuổi ra khỏi căn hộ và xúc hốt lên xe), hay bán
đổ bán tháo cho cán bộ đảng viên, bồng bế nhau tới những nơi đồi
núi khô cằn cây không mọc nổi, chỗ bãi chiến trường xưa dầy dẫy
bom mìn, chốn rừng thiêng nước độc sơn lam chướng khí. Đổi đời
đâu chả thấy, chỉ thấy gia cảnh điêu đứng, kinh tế kiệt quệ, con
cái thất học, bệnh tật đầy mình. Hàng vạn Hoa kiều đang sống phú
túc nhờ đất lành nước Việt cũng bị xua ra biên ải, đuổi về cố
quốc mà từ bao thế hệ họ đã xa rời, sau khi đã bị vét sạch của
cải. Thập niên gần đây, hàng chục vạn đồng bào từ Bắc hay Trung,
nghe theo chủ trương của nhà nước “giải phóng sức lao động, nâng
cao sức sản xuất”, kéo nhau vô Nam để làm công nhân trong những
công ty xí nghiệp nước ngoài. Nhưng sức lao động của họ chẳng
hề được giải phóng, trái lại bị bóc lột đến tận xương tủy, bởi
những chủ tư bản ngoại quốc được sự thông đồng bao che của cái
đảng mệnh danh là “đại diện trung thành của giai cấp công nhân”.
Hàng trăm ngàn người đang vùng lên để đòi một sự giải phóng đúng
nghĩa. Đó là chưa kể hàng chục vạn thanh niên thiếu nữ bị lừa
ra ngoại quốc để trở thành những nô lệ của thời mới.
Các tôn giáo cũng được nhà nước bảo là đã “giải phóng khỏi sự
lệ thuộc ngoại bang” qua việc trục xuất những thừa sai, tu sĩ
nước ngoài, rằng từ nay các giáo hội “toàn quyền nắm vận mạng
của chính mình trong tự do độc lập”.
Nhưng rồi nghị quyết 297 của Hội đồng bộ trưởng năm 1977, nghị
quyết 24 của Bộ chính trị năm 1990, nghị định 69 của Hội đồng
bộ trưởng năm 1991, chỉ thị 397 của Thủ tướng năm 1993, chỉ thị
của Bộ chính trị năm 1998, nghị định 26 của Thủ tướng năm 1999,
nghị quyết của Ban chấp hành trung ương đảng năm 2003, pháp lệnh
tôn giáo của Quốc hội năm 2004, nghị định tôn giáo của Chính phủ
năm 2005 đã như những vòng kim cô, dây thòng lọng, sợi xích sắt
liên tục siết cổ các tôn giáo ngày càng thêm chặt. Các giáo hội
đều bị lũng đoạn từ bên trong, qua việc nhà nước chọn lựa những
chức sắc lãnh đạo vừa ý với mình, nghĩa là những chức sắc biết
sẵn sàng im lặng và ngoan ngoãn tuân phục. Kiểu “giải phóng” của
nhà nước cọng sản từ đó đã hầu như triệt tiêu sức mạnh giải phóng
đích thực của các tôn giáo.
2- Tuy nhiên, nếu hiểu “giải phóng” theo nghĩa “gạt bỏ, tháo gỡ
những gì còn cản trở cho việc sử dụng lại một vật” (cũng theo
Từ điển tiếng Việt của Văn Tân) và cách tiêu cực là buông cương
thả lỏng, tháo cũi sổ lồng, để mặc sức tung hoành… thì quả thật
điều ấy được nghiệm thấy rõ ràng nơi chế độ CSVN suốt 30 năm nay.
a- Trước hết là buông cương thả lỏng cho lòng thù hận, cho sự
báo thù. Quả thế, tiếng súng vừa chấm dứt thì những đồng bào bị
coi là “có nợ máu với Cách mạng, với nhân dân” đã bị tước đoạt,
lưu đày, giam giữ, đầu độc hoặc thủ tiêu, trong số đó không thiếu
những nhà tu hành đủ mọi tôn giáo, theo “chính sách khoan hồng
của Cách mạng”…. Thân nhân, bằng hữu của họ cũng bị vạ lây. Chẳng
khác gì thời Cải cách ruộng đất. Thậm chí những chiến sĩ VNCH
đã chết cho tổ quốc cũng bị san bằng mồ mả. Tất cả đã bị trả thù
không cần xét xử, chẳng quyền biện hộ. Vua chúa Việt Nam ngày
xưa, sau khi chiến thắng quân Tàu xâm lược, còn biết mở lòng hiếu
sinh, đức nhân nghĩa mà tha hết và thả hết kẻ ngoại thù. Lòng
thù hận của CS đến nay vẫn còn giáng xuống khốc liệt trên những
nhà đấu tranh dân chủ hay tôn giáo đồng bào ruột thịt trong lẫn
ngoài nước. Chưa hết, hai tấm bia tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình,
dù xây nơi xứ người, cũng bị nhát búa hận thù của CSVN vung qua,
đập cho vỡ vụn. Đâu rồi đạo lý dân tộc ngàn đời “nghĩa tử là nghĩa
tận”?
b- Tiếp đến là buông cương thả lỏng cho óc duy ý chí, thói độc
đoán trong đường lối, chính sách kinh tế, chính trị, xã hội. Nhà
nước cứ tưởng ra lệnh là dân thuận lòng, là việc kết quả, là “tiến
nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”.
Nhưng rồi những vụ đổi tiền, hợp tác hóa, tách nhập tỉnh, xây
dựng vùng kinh tế mới, cải tạo công thương nghiệp… không cần luận
chứng đúng đắn, bất xét tính cách khả thi, chẳng kể lòng dân ý
nước, đã đưa Việt Nam đến bờ vực thẳm và nay vẫn mãi lẹt đẹt sau
người.
Chủ nghĩa Mác-Lênin kèm tư tưởng Hồ Chí Minh, kinh tế thị trường
với cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”, dẫu sai lầm trên mặt
lý luận và thất bại trên mặt thực tế, vẫn được đảng kiên trì nắm
vững, theo đuổi và áp đặt lên toàn thể đất nước. Nền “dân chủ
độc đảng” vẫn tiếp tục được khẳng định, dẫu nó mâu thuẫn tự bản
chất. Bạo lực cách mạng vẫn được đề cao như lối giải quyết rốt
ráo mọi vấn đề.
c- Tiếp đến là buông cương thả lỏng cho bệnh thành tích, nạn công
thần. Cán bộ đảng viên tìm mọi cách ngoi lên trong bộ máy quyền
lực hay giai tầng xã hội bằng những thành tích công lao, những
thành tích hoặc do bóc lộ sức dân, đàn áp kẻ yếu, hoặc do hành
xử gian dối, báo cáo thổi phồng, lời giả lỗ thật; kéo theo cả
một xã hội chỉ vụ hình thức, chỉ tìm tiếng khen, chỉ mộng làm
quan, chỉ trưng học vị, chỉ khoe bằng cấp, dù đó là bằng cấp giả.
Người ta thản nhiên trước việc chẳng cần thực lực, đức hạnh, tài
năng mà vẫn tiến thân đạt đích, vẫn có quyền cao chức trọng. Cả
một nền giáo dục sa sút đến cùng cực vừa là nguyên nhân vừa là
hậu quả của bệnh thành tích và nạn công thần đó, thành tích dâng
đảng độc tôn và công thần chế độ độc tài.
d- Tiếp đến là buông cương thả lỏng cho thói vô trách nhiệm, thiếu
ý thức. “Sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi” hay “quyền đầy đảng
nắm” là nguyên tắc sống của vô số con người, vô số viên chức cán
bộ. Lòng tự trọng và xấu hổ thiếu đến độ hiếm thấy những bậc hữu
trách chính yếu nói lời xin lỗi, rời ghế từ chức, đền bù thiệt
hại khi những tai họa đổ xuống đầu nhân dân. Đảng sẵn sàng cắt
đất dâng biển của tổ tiên, bán an ninh tài nguyên của đất nước,
để đồng bào bị ngoại bang hành hạ hay giết chết, mà không thấy
được nạn mất nước, mất lòng dân, mất tiếng thơm, chỉ mong giữ
ghế quyền lực và túi quyền lợi trước mắt. Nạn buông lỏng quản
lý cũng từ đó phát xuất, khiến đất nước điêu đứng tụt hậu, dân
lành lầm than khốn khổ, chính sách kế hoạch bỏ dở, nợ nước ngoài
ngày càng chồng chất, vì nạn tham ô, đục khoét chẳng có thắng
hãm và mức trần nào. PMU 18 là bề nổi gần đây nhất của tảng băng
vô trách nhiệm ấy. Nguyên nhân đẻ ra nó chính cái cơ chế đảng
toàn quyền, chẳng do dân bầu, đứng trên luật pháp và không hề
chịu trách nhiệm trước quốc dân.
Thói vô trách nhiệm, thiếu ý thức này khổ thay cũng lan đến các
tôn giáo, phát triển nơi những lãnh đạo tinh thần mà tinh thần
đã bị CS lãnh đạo, nên trở thành những ngôn sứ ngậm câm hay nói
năng vô thưởng vô phạt, những mục tử bỏ mặc đàn chiên cho sói
cướp đất, cướp nhà, cướp hồn, cướp cả sinh mạng mà vẫn dửng dưng
vô cảm, còn khép mình trong vỏ ốc “không làm chính trị”!!!
e- Tiếp đến là buông cương thả lỏng cho thói hưởng thụ. Sự mệt
mỏi vì chiến tranh, nỗi đau khổ vì một thời thiếu thốn, tính vô
đạo đức của chủ nghĩa cộng sản, lại thêm quan niệm duy vật đã
được nhồi nhét vào đầu, đã và đang đẩy vô số người, đặc biệt giới
trẻ con ông cháu cha, cán bộ đảng viên cao cấp đến chỗ coi hưởng
thụ là ý nghĩa cuộc đời. Bi thảm hơn nữa là hưởng thụ nhờ trấn
lột công sức của người, cướp đoạt tài nguyên của đất nước, bỏ
túi tiền viện trợ ngoại quốc. Nhà nước vay mượn + cán bộ ăn chơi
+ nhân dân trả nợ là một điệp khúc vang mãi suốt 30 năm nay. Tụ
điểm ăn chơi, trung tâm giải trí được xây nhiều hơn, đẹp hơn,
tốt hơn nhà thương trường học. Thi và bảo trợ thi sắc đẹp phong
phú hơn thi và bảo trợ thi tài năng. Người ta sẵn sàng tàn phá
môi trường, huỷ diệt đất thiêng, đày ải dân lành để tăng kinh
tế, thu lợi nhuận, nhưng chỉ nhằm thỏa mãn thói ăn chơi hưởng
thụ của bản thân, phe nhóm và bè đảng.
f- Cuối cùng là buông cương thả lỏng cho mê tín dị đoan, tin vơ
thờ quấy. Đang khi các tôn giáo chân chính bị kềm tỏa đủ cách,
luân lý của tôn giáo bị cấm cản, đóng góp của tôn giáo bị giới
hạnm hoạt động của tôn giáo bị kiểm soát bởi đảng và nhà nước,
thì thứ tôn giáo duy vật và duy lợi tha hồ phát triển. Lắm kẻ
xưa nay tự hào vì có tinh thần duy vật khoa học, trong đó đa phần
là cán bộ đảng viên, nay cũng xì xụp khói nhang, hương đèn lễ
phẩm, xin xăm bói toán tại các miếu thánh am thiêng, điện cô đền
bà, với mục đích thoát luật pháp, thêm chức quyền, tăng lợi lộc.
Cứ những này rằm, ngày vía, ngày hội… là từng đoàn xe công bảng
số xanh chật cứng sân bãi các miếu điện này. Quả là vô thần duy
vật chừng nào, người ta càng mê tín dị đoan chừng ấy. Trong một
chế độ chống Thiên Chúa thì người ta sẽ tôn thờ tất cả, ngoại
trừ Thiên Chúa!
Kết
Hơn ba mươi năm trôi qua đã bày ra một đất nước tang thương, một
dân tình ngao ngán, một chính thể mục ruỗng, một tiền đồ tăm tối,
một tương lai vô định. Việt Nam cần một cuộc giải phóng đích thực.
Cuộc giải phóng này đã bắt đầu thành hình, qua từng đoàn nông
dân ra tận trung ương kiên trì khiếu kiện, từng đoàn công nhân
đình công đòi tăng lương và quyền sống, từng nhóm nhà đấu tranh
dân chủ hay tôn giáo ra các thư góp ý, thư phản kháng, lời tuyên
bố, lời kêu gọi.
Đặc biệt gần đây là Lời Kêu gọi bầu cử đa đảng và tẩy chay bầu
cử độc đảng, Lời Kêu gọi cho quyền công nhân và hoạt động công
đoàn, Lời Kêu gọi cho quyền thành lập và hoạt động đảng phái,
Tuyên ngôn Tự do Dân chủ năm 2006 của 118 nhà tranh đấu, tờ bán
nguyệt san không giấy phép mang tên TỰ DO NGÔN LUẬN.
Bên ngoài là Nghị quyết 1481 rất đanh thép của Hội đồng Âu châu,
là các hoạt động, phong trào, tổ chức đấu tranh ngày càng dâng
cao và lớn mạnh của đồng bào hải ngoại, là sự thức tỉnh và hỗ
trợ ngày càng hiệu quả của quốc tế đối với vấn đề nhân quyền tại
Việt Nam. Ngày giải phóng đích thực cho dân tộc chẳng còn xa nữa!
Thành phố Huế,
ngày 20-4-2006
Lm. PHAN VĂN LỢI
TOP
|